Bài 1. SƠ YẾU LƯ LỊCH THÁNH PHAOLÔ

Bản tự khai của Phaolô

Pl 3,4-6: (1) Là người do thái + Quyền công dân Rôma ; (2) Thuộc phái Pharisêu ; (3) Sinh trưởng ở diaspora (Tarsô)

Tên

1. Saoulos (Saul – Sa-un – Saolê): nghĩa đen là “người được hỏi”

Là tên do thái được đặt khi mới sinh

Cũng là tên của một người nổi tiếng cùng chi tộc Benjamin, đó là vua Saolê, vị vua đầu tiên của thể chế quân chủ do thái.

Khi đặt cho con cái tên này, chắc chắn cha mẹ ngài kỳ vọng rất nhiều vào ngài.

2. Paulus (Phaolô)

Là tên Rôma. Paulus nghĩa là “Ít, nhỏ”

Là tên thứ hai đồng thời với tên Saoulos (chứ không phải là tên mới có sau này), v́ ngài có quốc tịch Rôma.

Thuở thiếu thời ngài chỉ dùng tên do thái. Sau này khi đi truyền giáo ở đảo Sưp, ngài mới chính thức xưng bằng tên Rôma này. Lư do thứ nhất là để lấy cảm t́nh của Thống đốc đảo này Sergius Paulus (Cv 13,7-8) ; lư do thứ hai để cho thấy sứ mạng truyền giáo cho lương dân. Từ đó ngài luôn được gọi là Phaolô.

Diaspora

Gia đ́nh ngài sinh sống ở thành phố Tarsô (nay thuộc nước Thổ nhĩ Kỳ).Ngoài lănh thổ Palestine, gọi chung là diaspora.

Chữ Diaspora có nghĩa là “lưu lạc”

Người do thái ở diaspora một mặt vẫn giữ truyền thống văn hóa và tôn giáo của dân tộc (đặc biệt là cơ chế hội đường), mặt khác hội nhập với văn hóa hy lạp, đầu óc cởi mở.

Công dân Rôma

Rất ít người có quyền này (thống kê thế kỷ I: chỉ 1/5 dân số của đế quốc)

Hai cách để có quyền này: bẩm sinh ; dùng tiền để mua (x. Cv 22,24-28: Claudius Lysia, vị chỉ huy cơ đội coi đền thờ Giêrusalem phải dùng tiền để mua).

Phaolô có quyền này bẩm sinh. Gia đ́nh ngài có công và hoàng đế Auguste.

Được tham gia sinh hoạt sống công cộng của xă hội

Những đặc quyền về thuế má

Đặc quyền về pháp lư (đ̣i được chính hoàng đề xét xử ; nếu bị xử tử th́ không phải chịu những h́nh khổ nhục nhă và đau đớn, nhưng “được” chém đầu)

Phái Pharisêu

Thời đó có nhiều hệ phái: (1) Sađóc: mất uy tín ; (2) Pharisêu: uy tín nhất ; (3) Essêni: tuy đạo đức nhưng sống xa cách nên không ảnh hưởng nhiều ; (4) Zêlốt: quá khích và thiên về chính trị, quân sự.

Phái này thành lập từ thời Macabê khởi nghĩa. Đặc điểm của phái Pharisêu là rất coi trọng lề luật Môsê (x. 1Mcb 2,26-27: “Ông bừng lửa nhiệt thành đối với Luật… Rồi ông Mattítgia rảo khắp thành và hô lớn tiếng ‘Ai nhiệt thành với Lề Luật và tuân giữ Giao ước, hăy theo tôi’”)

Thời Phaolô, những người pharisêu là những người học thức, thường là kư lục, chuyên viên diễn giải thánh kinh (x. Rm 2,17-20: Chính Phaolô mô tả một mẫu người pharisêu)

Rabbi, đệ tử của Rabbi Gamaliel

Cv 22,3: Phaolô xưng ḿnh là đệ tử của Rabbi Gamaliel.

Gamaliel (Tên ông có nghĩa là “Chúa là phần thưởng của tôi”) là một trong những rabbi nổi tiếng nhất thời đó. Ông nội ông là Rabbi Hillel l’Ancien người đă lập một học viện Pharisêu vào triều Hêrôđê. Gamaliel là viện sĩ hàn lâm do thái giáo. Là pharisêu nên Gamaliel cũng rất tôn trọng lề luật, nhưng không nệ luật, trái lại có đầu óc cởi mở (Cv 5,34-41 : can thiệp ở Thượng hội đồng để bênh vực cho các tông đồ)

Thời đó, Rabbi là một “tước hàm” của một số rất ít người học rộng, đức dầy như Gamaliel. Khi uy tín Chúa Giêsu lên cao, nhiều người cũng gọi Ngài là Rabbi.

Có lẽ Phaolô cũng được gọi là Rabbi. Sự kiện ông được Thượng Hội Đồng do thái giáo tín nhiệm trao giấy ủy quyền đi bắt các tín hữu Đức Kitô ở cả trong và ngoài người do thái chứng tỏ điều đó.

SUY NGHĨ

Với sơ yếu lư lịch như vậy, Phaolô có một tương lai hết sức rực rỡ.

Nhưng ngài đă từ bỏ tất cả v́ Đức Kitô

“Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt tḥi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô” (Pl 3,8)

“V́ Người (Đức Kitô), tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người” (Pl 3,8-9)

 

Bài 2. BIẾN CỐ ĐAMÁT

 

Nếu chú ư t́m hiểu kỹ một số chi tiết trong các bài tường thuật của Sách Công vụ, chúng ta sẽ hiểu thêm nhiều điều rất sâu sắc về biến cố Đamát.

A. Động cơ khiến Phaolô đi Đamát

Cv 26,12 ghi lời Phaolô kể rằng “Sau khi được các Thượng tế trao quyền và ủy nhiệm, tôi lên đường đi Đamát”. Thực ra, theo Chantal Reynier (Pour Lire Saint Paul, nxb Cerf, Paris 2008), chưa chắc là các Thượng Tế ở Giêrusalem có quyền đến tận Đamát là thủ đô nước Syria, nơi ấy thời đó chỉ có uy quyền duy nhất của đế quốc Rôma đô hộ.

Việc các Thượng Tế vượt quá quyền hạn của ḿnh như thế chứng tỏ họ rất muốn tiêu diệt các tín hữu của Đức Kitô. Và việc Phaolô tích cực thực hiện ư định của các Thượng tế cũng cho thấy Phaolô thù ghét các tín hữu Đức Kitô đến mức nào.

Hoàn cảnh chính trị thời đó cũng phức tạp: Từ năm 30 đến năm 34, Thành phố Đamát là trung tâm của những xung đột giữa phe Hêrôđê và phe Nabatê. Đến Đamát là đi vào chốn nguy hiểm. Nhưng Phaolô cũng bất chấp. Như thế động cơ khiến Phaolô lên đường đi Đamát cũng là sự thù ghét rất mạnh mẽ đối với các tín hữu Đức Kitô.

Tuy nhiên, dựa vào tác phong và cách sống quen có của Phaolô, ta biết ông không phải là một kẻ tiểu nhân. Do đó cho dù việc ông đi lùng bắt các tín hữu Đức Kitô là do thù ghét, nhưng sự thù ghét này không phải v́ những lư do thấp hèn, chẳng hạn như ḷng đố kỵ hay sợ mất ảnh hưởng. Đó là sự thù ghét v́ ư ngay lành v́ Phaolô xác tín rằng những tín hữu ấy đang lầm lạc và nếu cứ để họ phát triển th́ sẽ tác hại lớn lao đến niềm tin do thái giáo.

B. Ngă xuống đất

1. Thị kiến mà Phaolô thấy trên đường Đamát không phải là một ảo giác của Phaolô, cũng không phải là một “huyền thoại” mà tác giả sách Công vụ mượn để diễn tả ư tưởng thần học của ḿnh. Đó là một sự thật đă xảy ra. Bằng chứng là cuộc đời Phaolô đă hoàn toàn thay đổi sau biến cố ấy.

2. Có một chi tiết cần làm sáng tỏ: Ngày nay khi thuật lại biến cố này, người ta thường kể rằng Phaolô bị té từ trên ngựa xuống đất. Nhiều bức họa cũng vẽ cảnh Phaolô té xuống từ trên lưng ngựa. Tuy nhiên không có ǵ không có bằng chứng ǵ chính xác:

Thời đó người ta ít cỡi ngựa. Chỉ những chiến binh ra trận mới dùng ngựa mà thôi.

Trong 3 bài tường thuật trong sách Công vụ, không bài nào nói Phaolô té từ ngựa xuống. Cv 9,4 và 22,7 chỉ kể “Ông ngă xuống đất” ; c̣n Cv 26,14 th́ ghi lời của chính Phaolô “Tất cả chúng tôi đều ngă xuống đất và tôi nghe có tiếng nói với tôi”.

Chúng ta không biết lúc ấy Phaolô đang cỡi lừa, đi xe hay đi bộ. Chỉ biết là ông đă bị quật ngă xuống đất. Ngă xuống đất là bị buộc phải đổi tư thế, đổi tác phong và đổi cả suy nghĩ:

Từ tư thế hiên ngang của người cỡi lừa, đi xe hoặc đi thẳng, Phaolô bị quật xuống tư thế thấp hèn nằm trên mặt đất.

Từ tác phong của kẻ cho rằng ḿnh đang nắm chân lư và đang đi trừng phạt những kẻ sai lầm, Phaolô bị buộc phải từ bỏ thành kiến ấy.

Từ suy nghĩ cho rằng ḿnh là người đạo đức, có nhiều công đức và đang làm một việc công đức to lớn nữa là lùng bắt các kitô hữu, Phaolô bỗng thấy hụt hẫng v́ mất tất cả.

C. Mù và lại sáng mắt

Cv 9,3 kể:: “Đang khi ông đi đường và đến gần Đamát, th́ bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông”

Luồng ánh sáng chọi lọi ấy trước tiên khiến Phaolô bị mù (Cv 9.8: “Ông Saolô từ dưới đất đứng dậy, mắt th́ mở nhưng không thấy ǵ. Người ta phải cầm tay dắt ông vào Đamát”)

Phaolô bị mù, nghĩa là ông không thấy ǵ nữa với cặp mắt, với cái nh́n và với suy nghĩ cũ của ông.

Sau khi vào thành Đamát và được Khanania đặt tay lên đầu. “Lập tức có những cái ǵ như vảy bong ra khỏi mắt ông Saolô, và ông lại thấy được” (Cv 9,18). Phaolô mở mắt lại. Mở mắt lại, Phaolô đă nh́n mọi sự một cách khác hẳn.

Phải nhớ bối cảnh biến cố Đamát th́ mới hiểu hết ư nghĩa những lời Phaolô nói sau này. Như: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt tḥi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô. V́ Người , tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người” (Pl 3,8-9)

“Tất cả mọi sự” mà trước đó Phaolô coi là “mối lợi” nhưng sau đó ông lại “coi như rác” và c̣n là “thiệt tḥi” nữa là ǵ ? Thưa cụ thể là Luật và những việc đạo đức theo Luật.

Trước biến cố đó, Phaolô đă dành hết tâm huyết để sống theo Luật: Ông học Luật, ông hết sức tuân thủ những điều Luật dạy, ông có bắt bớ các tín hữu Đức Kitô th́ cũng v́ muốn bảo vệ Luật. Ông đă tưởng rằng càng nhiệt thành với Luật th́ ông càng có nhiều công đức, và “mối lợi” của ông càng to lớn.

Nhưng khi gặp được Đức Kitô tỏ ḿnh ra sáng láng trên đường Đamát, ông chợt khám phá ra rằng tất cả những cố gắng của ông trước đây đều là công dă tràng, chẳng có một chút công đức ǵ (v́ quả thực, đối với Chúa, tất cả những ǵ chúng ta làm được đều không đáng kể. Phaolô sẽ nói điều này trong thư Rôma và Galát). Điều duy nhất có giá trị, điều duy nhất khiến người ta được cứu độ chính là niềm tin vào Đức Giêsu Kitô.

D. Một lẽ sống mới

Đấng uy quyền đă quật ngă Phaolô chính là Chúa Giêsu Kitô. Sau khi quật ngă ông, Đức Kitô ban cho ông một mặc khải: Giêsu đang hiện ra với ông không phải là một tên gian ác bị các Thượng Tế dùng Luật Môsê để xử tử, mà là một Đấng sáng láng uy quyền đă được Thiên Chúa cho sống lại.

Trong Pl 3,12, Phaolô thú nhận “Tôi đă được Đức Kitô Giêsu chiếm đoạt”.

Đức Giêsu chẳng những quật ngă Phaolô, chiếm đoạt ông, mà c̣n trở thành thần tượng cho ông tôn thờ. Trong Pl 2,10, Phaolô viết: “Khi vừa nghe Danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ”. Trên đường Đamát, Phaolô đă “bái quỳ” để tôn thờ Danh thánh Giêsu.

Tóm lại, ư nghĩa của biến cố Đamát là ǵ ?

Cuộc gặp gỡ Đức Giêsu trên đường Đamát là một bước ngoặc trong cuộc đời thánh Phaolô:

Trước tiên, biến cố ấy giúp Phaolô hiểu rằng ḿnh đă lầm: Lầm v́ đă quá cậy dựa vào Luật đạo do thái ; lầm v́ đă quá tự măn với những hiểu biết về Luật của ḿnh ; lầm v́ quá quá tự hào về những cố gắng sống theo Luật từ trước cho tới lúc ấy. Biến cố ấy vạch trần một sự thật phũ phàng là tất cả những điều ấy đă không làm cho ông trở nên một người công chính như ông tưởng, trái lại chỉ đưa đến một kết quả tai hại là khiến ông thù ghét Đấng Công chính thật là Đức Giêsu và hung hăng bắt bớ các tín hữu của Ngài.

Khi biết ḿnh lầm, Phaolô không ngại tư bỏ tất cả: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt tḥi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô. V́ Người (Đức Kitô), tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người” (Pl 3,8-9)

Sau khi bỏ tất cả quá khứ, Phaolô t́m cho ḿnh một lẽ sống mới, đó là Đức Giêsu Kitô: Từ đó trở đi, Phao lô hoàn toàn sống theo Đức Kitô, sống v́ Đức Kitô, sống trong Đức Kitô, sống cho Đức Kitô:

“Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20)

“T́nh yêu Đức Kitô thúc bách chúng tôi” (2Cr 5,14)

“Ai có thể tách chúng ta ra khỏi t́nh yêu của Đức Ki-tô?” (Rm 8:35)

“Miễn là Đức Kitô được rao giảng” (Pl 1,18)

V́ Đức Kitô ông sẵn sàng từ bỏ tất cả và chịu đựng tất cả:

“Chúng tôi luôn mang trong thân ḿnh cuộc thương khó của Đức Giêsu” (2Cr 4,10)

BÀI HỌC CHO CHÚNG TA

1. Cần có một lẽ sống:

Phaolô là một con người luôn có một lẽ sống. Trong giai đoạn đầu, ông theo một lẽ sống của sai lạc (Luật), trong giai đoạn sau, lẽ sống của ông đúng đắn (Đức Kitô). Nhưng lúc nào ông cũng có lẽ sống để theo. Chính v́ có lẽ sống nên lúc nào Phaolô cũng nhiệt t́nh, lúc nào Phaolô cũng cảm thấy đời ḿnh có ư nghĩa.

Không có lẽ sống, con người sẽ như lục b́nh trôi, sẽ sống buông thả, chẳng ích lợi ǵ cho ḿnh mà cũng chẳng ích lợi ǵ cho người khác. Ngay cả bản thân cũng chẳng thấy đời ḿnh có chút ư nghĩa nào.

Là con người, là thanh niên, và nhất là ứng sinh linh mục, mỗi người chúng ta phải có một lẽ sống như thánh Phaolô. Chính cái lẽ sống ấy hướng dẫn đời ḿnh và động viên ḿnh, khiến cho ḿnh sống và hoạt động hết ḿnh cho bản thân và cho người khác.

2. Giá trị của cuộc sống

Thánh Phaolô rất quan tâm đến điều làm cho cuộc sống và những việc làm của ḿnh có giá trị. Ban đầu ông tưởng điều ấy là Luật nên ông đă hết ḿnh sống theo Luật, và rất hănh diện về những ǵ ḿnh đă làm được theo quy định của Luật.

Nhưng biến cố Đamát đă giúp cho Phaolô thấy rơ rằng giá trị của tất cả cách sống và những việc làm ấy đều là giá trị ảo. Giá trị thật duy nhất là niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Nếu không tin vào Đức Kitô th́ tất cả đều như cỏ rác, tất cả đều là hư vô.

Có lẽ chúng ta vẫn c̣n ở giai đoạn đầu của đời Thánh Phaolô, Chúng ta vẫn c̣n sống dựa vào Luật, chúng ta vẫn coi trọng những việc tốt ḿnh làm được. Chúng ta cần phải vượt qua giai đoạn ấy để đến được giai đoạn hai của Phaolô: Tất cả là nhờ Đức Kitô, với Đức Kitô và trong Đức Kitô.

 

Bài 3. TẠI SAO PHAOLÔ SAY MÊ RAO GIẢNG VỀ THẬP GIÁ?

 

“Tôi không muốn biết đến chuyện ǵ khác ngoài Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá” (1Cr 2,2). Thánh Phaolô đă tuyên bố như thế với cộng đoàn Côrintô. Quả là một “Tin Mừng” kỳ lạ!

A. Ư nghĩa của thập giá trong nền văn hóa thế kỷ thứ nhất.

1. Đối với người Rôma

Văn hào Cicéron đă viết rằng thập giá là “khổ h́nh tàn bạo nhất và sỉ nhục nhất dành cho những tên nô lệ” (Cicéron, Bài thứ hai chống Verrès V 163). Sở dĩ Cicéron đă viết như thế là v́ một người công dân Rôma dù phạm tội đáng chịu xử tử nhưng cũng không phải xử khổ h́nh thập giá, v́ nó quá đau đớn và nhục nhă. Người ta chỉ dùng h́nh khổ này cho những tên nô lệ mà thôi với tin tưởng là sự tàn bạo khủng khiếp của nó sẽ khiến dân nô lệ sợ hăi mà không dám nổi loạn nữa.

Sự tàn bạo khủng khiếp của h́nh phạt này chẳng những do chính những đ̣n tra tấn dă man (đánh đ̣n, đóng đinh, treo lên, đập găy ống chân, đâm vào cạnh sườn…) mà c̣n gia tăng do tâm lư bệnh hoạn của những tên lư h́nh cảm thấy thích thú khi hành khổ nạn nhân. Đây là một h́nh thức “bạo dâm” (chúng đă bắt Đức Giêsu chịu đội măo gai, mặc áo vua, khạc nhổ vào mặt, chế nhạo…)

2. Đối với người Do thái

Sử gia Flavius Josèphe kể lại rằng quân lính Rôma, do ḷng thù ghét dân do thái, đă không ngại đóng đinh bất cứ người do thái nào chống lại họ. Ông viết: “Khi nổi giận hoặc do ḷng thù ghét, những tên lính đă mang các tù nhân ra làm tṛ đùa và đóng đinh họ vào thập giá mỗi người theo một tư thế khác nhau” (Flavius Josèphe, Cuộc chiến tranh do thái 5, 451). Điều này được chính Sénèque xác nhận: “Tôi nh́n thấy trước mặt tôi nhiều cây thập giá không cùng một kiểu dáng như nhau, nhưng khác nhau tùy ư người dựng chúng lên: có những nạn nhân bị treo ngược đầu xuống đất, những người khác bị đâm cọc xuyên qua đít, những người khác nữa bị đóng đinh vào hai tay giang rộng ra trên cây gỗ…” (Sénèque, Đối thoại 6).

V́ h́nh khổ này quá khủng khiếp nên người do thái đă loại nó ra khỏi danh sách những h́nh phạt. Thậm chí sách Đệ nhị luật c̣n cho rằng ai bị tử h́nh thập giá là không bị chính Thiên Chúa nguyền rủa (Đnl 21,29)

B. Sự phi lư của một Đấng Messia bị đóng đinh thập giá.

Khổ h́nh thập giá vừa tàn bạo, vừa sỉ nhục lại vừa là dấu chỉ bị Thiên Chúa nguyền rủa như thế. Vậy lời rao giảng về một Đấng Messia bị đóng đinh thập giá sẽ gây nên phản ứng ǵ ? Đương nhiên sẽ bị người ta chống đối, nhạo cười và bỏ ngoài tai.

Thế mà Phaolô lại dám rao giảng rằng ông Giêsu bị đóng đinh thập giá trên đồi Golgotha chính là Đấng Messia mà muôn dân trông đợi: “Trong khi người do thái đ̣i hỏi những điềm thiêng dấu lạ, c̣n người hy lạp t́m kiếm lẽ khôn ngoan, th́ chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh…” (1 Cr 1,22-23a). Chính Phaolô cũng ư thức về sự “phi lư” của điều ḿnh rao giảng. Ngài viết tiếp: “… điều mà người do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr,23b).

1. Tại sao người do thái coi thập giá là ô nhục ?

Thứ nhất, khổ h́nh này rất phi nhân: một con người có nhân phẩm không thể bị giết chết một cách nhục nhă như vậy.

Thứ hai, nó ngược lại mọi h́nh dung về Đấng Messia. Đấng Messia là người được Thiên Chúa sai đến nên luôn được Thiên Chúa hổ trợ bằng những dấu chỉ quyền năng, vinh quang và chiến thắng. V́ thế, nói một kẻ bị đóng đinh là Đấng Messia th́ đúng là một sự vấp phạm.

Thứ ba, người do thái coi thập giá là biểu tượng của quyền lực trấn áp của đế quốc Rôma.

Là một người do thái, hơn nữa c̣n là một người pharisêu, chắc chắn Phaolô cũng chia xẻ sự ghê tởm thập giá của những đồng bào và đồng phái của ḿnh.

Nhưng tại sao các thượng tế do thái lại đ̣i Philatô phải xử Đức Giêsu chịu đóng đinh thập giá ? Ở đây chúng ta thấy được sự thâm độc của họ: họ biết rằng mọi người do thái đều ghê tởm thập giá, họ cũng biết rằng một số người do thái c̣n hy vọng rằng Đức Giêsu chính là Đấng Messia. Vậy khi vận động được với Philatô đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá th́ hy vọng kia sẽ lập tức biến thành ảo vọng, và mọi lời tuyên truyền về Đấng Messia Giêsu sẽ lập tức bị câm miệng !

2. Tại sao dân ngoại coi thập giá là điên rồ ?

Ngay cả trong đền Pantheon thờ đủ mọi thứ thần linh cũng không có một tượng thần nào bị giết chết một cách nhục nhă như thế. Theo suy nghĩ tự nhiên, đă là thần linh th́ đương nhiên phải quyền phép, oai phong và vinh hiển. Thần thánh ǵ mà bị giết, và giết một cách thê thảm như vậy !

Bởi thế chẳng có ǵ lạ khi Pline (năm 61-113), vào thế kỷ II, đă coi việc tôn thờ Đức Giêsu trên thập giá là “sự mê tín phi lư cực độ” (Pline, Các thư X, 96,4-8) ; C̣n sử gia Tacite (năm 56-120) đă cho rằng sứ điệp của kitô giáo nên được xếp hàng đầu trong số “những sự mê tín đáng ghét” (Biên niên 15,44.3) ; và Suétone (năm 70-129) người chuyên viết tiểu sử đă coi sứ điệp ấy chỉ đơn thuần là “một thứ mê tín mới và nguy hiểm” (Néron 16,3)

Tóm lại, rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh thập giá là Đấng Messia là một điều hoàn toàn không chấp nhận được về tất cả mọi phương diện nhân bản, lư luận, thẩm mỹ và đạo đức…

Thế nhưng tại sao Phaolô lại rao giảng như thế và c̣n cho rằng đó là một Tin Mừng ?

C. Thập giá cho thấy những ǵ ?

Trước khi lên đường đi Đamát, Phaolô cũng ghê tởm thập giá và thù ghét Đức Giêsu chết trên thập giá. Nhưng ánh sáng của biến cố Đamát đă làm cho tất cả những kiểu thấy trước đó của Phaolô thành “mù”, sau đó lại làm cho Phaolô “sáng mắt” thấy được những điều ngược lại.

1. Đức Giêsu không phải là kẻ tội lỗi bị Thiên Chúa nguyền rủa

Trước đó, chỉ dựa vào cách hiểu theo nghĩa đen câu sách thánh Đnl 21,23 (“Kẻ bị treo là kẻ bị Thiên Chúa nguyền rủa”) mà Phaolô coi Đức Giêsu là một kẻ tội lỗi. Nhưng trong biến cố Đamát, Phaolô lại thấy Đức Giêsu hiện ra vinh quang sáng láng. Đó chính là bằng chứng cho ông hiểu rằng Đức Giêsu không bị Thiên Chúa nguyền rủa, trái lại Ngài là người được Thiên Chúa cho sống lại. Ngài chính là Con yêu dấu của Thiên Chúa.

2. Thập giá là bằng chứng cho thấy t́nh yêu vô biên của Đức Giêsu.

Đức Giêsu là Con yêu dấu của Thiên Chúa, nhưng tại sao Ngài chịu đóng đinh thập giá? Phaolô hiểu rằng tất cả chỉ v́ t́nh yêu:

Trước hết là t́nh yêu đối với loài người: (1) V́ yêu thương loài người nên Đức Giêsu đă nhập thể chia sẻ thân phận làm người như chúng ta. Chỉ nguyên sự việc nhập thể đă là một dấu chỉ t́nh yêu hạ ḿnh xuống. Nhưng t́nh yêu của Đức Giêsu chưa lấy thế làm đủ. Ngài c̣n hạ ḿnh đến mức tột cùng để chia sẻ thân phận hèn hạ nhất mà con người có thể chịu. Thánh Phaolô viết: “Người đă chịu đóng đinh v́ mang thân phận yếu hèn” (2 Cr 13,4). Thật vậy, trong cơn hấp hối trước khi đi vào con đường thập giá, Đức Giêsu đă ư thức rơ về “sự vấp phạm” và “sự điên rồ” của Thập giá. Nhưng Ngài đă tự nguyện đón nhận (“Xin vâng ư Cha”). Dù chẳng có tội ǵ, nhưng Ngài chấp nhận cái chết thập giá để rồi bị coi là “tội nhân” (2 Cr 5,21: “Đấng chẳng hề biết tội là ǵ, th́ Thiên Chúa đă biến Người thành hiện thân của tội lỗi v́ chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người”), và bị coi là “đồ bị nguyền rủa” (Gl 3,13: “V́ chúng ta, chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa”). Yêu thương là cho đi, yêu thương là dám mất mát, yêu thương là chấp nhận khổ đau nhục nhă. Càng cho đi nhiều chừng nào, mất mát nhiều chừng nào, nhục nhă nhiều chừng nào th́ càng chứng tỏ một t́nh yêu bao la chừng ấy. H́nh ảnh Đức Giêsu trên thập giá cho thấy t́nh yêu bao la vô bờ bến của Ngài đối với loài người chúng ta.

Thập giá cũng cho thấy t́nh yêu của Đức Giêsu đối với Chúa Cha. Yêu thương ai là làm theo ư người đó. Đức Giêsu yêu thương Chúa Cha nên đă vâng lời Chúa Cha, “vâng lời cho đến nỗi bằng ḷng chịu chết và chết trên thập giá” (Pl 2,8)

Thập giá cũng cho thấy t́nh yêu vô biên của Chúa Cha: Người ta thường có một h́nh ảnh đáng sợ về Thiên Chúa, một Thiên Chúa công b́nh, một Thiên Chúa thánh thiện. Công b́nh và thánh thiện quá đến nỗi không thể chịu được tội lỗi và không thể tha thứ người có tội. Nhưng thập giá đă cho thấy được h́nh ảnh đích thực của Thiên Chúa: Ngài là t́nh yêu, Ngài chỉ là t́nh yêu, nên Ngài sẵn sàng tha thứ tội lỗi và vẫn luôn yêu thương tội nhân. Yêu thương đến nỗi để cho Con Một của ḿnh chịu chết để đền các tội lỗi thay cho các tội nhân. Phaolô c̣n hiểu rằng cái chết của Đức Giêsu trên thập giá là điều chính Thiên Chúa yêu thương đă định sẵn trong kế hoạch của Ngài: “Người đă chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ… Người đă tiền định cho ta làm nghĩa tử… nhờ máu Thánh Tử đổ ra chúng ta được cứu chuộc, được tha thứ tội lỗi…” (Ep 1,4.5.7)

Quan điểm này của Thánh Phaolô cũng giống với quan điểm của Tin Mừng Thánh Gioan. Khi sắp chịu chết trên Thập giá, Đức Giêsu đă nói với Chúa Cha: “Lạy Cha, giờ đă đến, xin Cha tôn vinh Con, dể Con tôn vinh Cha” (Ga 17,1) “Tôn vinh” là làm cho người ta biết sự thật. Thập giá đă mặc khải cho biết sự thật về T́nh yêu bao la: T́nh yêu của Đức Giêsu đối với loài người, t́nh yêu của Đức Giêsu đối với Chúa Cha, và t́nh yêu của Chúa Cha đối với nhân loại tội lỗi.

Những sự thật về t́nh yêu mà Thánh Phaolô thấy được nơi thập giá Đức Giêsu đă khiến ngài nghẹn ngào và biến đổi hoàn toàn cuộc sống của ngài: “Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống trong xác phàm là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đă yêu mến tôi và hiến mạng v́ tôi” (Gl 2,20).

Và cũng chính v́ thế mà thánh Phaolô dốc hết toàn lực để rao giảng về Thập giá cho dù đó là một điều hết sức phi lư đến mức lạ lùng. “Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, điều mà người do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr,23) . Thậm chí ngài c̣n viết: “Tôi không muốn biết đến chuyện ǵ khác ngoài Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2,2).

 

ĐỂ KẾT

Trong quyển “Những kẻ khốn cùng” (Les misérables, 1862), văn hào Victor Hugo kể chuyện tên tù vượt ngục Jean Valjean lẻn vào nhà một vị Linh mục định ăn cắp những chân đèn bằng vàng nhưng bị bắt gặp. Vị linh mục ấy chẳng những không tố cáo anh mà c̣n mời anh ăn tối và tặng luôn cho anh những chiếc chân đèn quư giá đó. Đây là một cuộc gặp gỡ bất ngờ và xúc động. Jean Valjean đă có một cảm nghiệm sâu sắc về ḷng nhân ái. Cảm nghiệm ấy đă biến đổi hẳn cuộc đời anh, và từ đó đến chết anh luôn nhớ và sống theo ḷng nhân ái.

Cũng tương tự như vậy, Thánh Phaolô đă có một cảm nghiệm không ngờ về T́nh yêu của Đức Kitô trên Thập giá. Chính v́ vậy, chẳng những đời ngài đă hoàn toàn thay đổi, mà ngài c̣n hăng say rao giảng về Thập giá Đức Kitô, dẫu biết rằng đó là một sứ điệp lạ kỳ đối với suy nghĩ thường t́nh của con người.

 

Lm. Carolo

KINH KÍNH THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ

 

Lạy Thánh Phaolô Tông Đồ đầy nhiệt tâm,

V́ t́nh yêu Chúa Kitô đă đổ máu hy sinh,

Xin chuyển cầu cho chúng con một niềm tin sâu xa,

một niềm hy vọng bền vững,

một ḷng mến Chúa nồng nàn,

để chúng con có thể cùng nói với Ngài:

“Tôi sống, nhưng không c̣n phải là tôi,

mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20)

xin giúp chúng con trở nên tông đồ phục vụ Giáo Hội

với một lương tâm trong sáng,

chứng nhân của Chân-Thiện-Mỹ,

giữa thời đại hôm nay.

Cùng với Ngài,

chúng con tung hô Thiên Chúa là Cha,

đầy vinh quang,

trong Giáo Hội và trong Đức Kitô,

đến muôn đời. Amen.