Bài 3. SỰ HOÁN CẢI CỦA THÁNH PHAOLÔ

(PHAOLÔ CHỨNG NHÂN CỦA MỘT NGƯỜI TRỞ LẠI)

Đức Giáo Hoàng BÊNÊĐICTÔ

BÀI QUẢNG DIỄN

(dành cho người dạy)

I. SUY NIỆM VÀ CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

 Pl 3, 4-9: thánh Phaolô coi những ǵ trước kia là có lợi th́ nay v́ Đức Kitô, ngài coi là thiệt tḥi và việc được biết Đức Kitô là mối lợi tuyệt vời không ǵ so sánh nổi.

 Cv 9, 11-19: trong biến cố Đamas, thánh Phaolô gặp gỡ Đức Kitô.

II. QUẢNG DIỄN

1. Nhập đề: biến cố trên đường Đamas

(*Các tiểu đề của người dịch*)

Bài giáo lư hôm nay nói về kinh nghiệm thánh Phaolô cảm nhận trên đường Đamas, nghĩa là nói về sự hoán cải của ngài. Hiển nhiên, trên chính đường Đamas, một thời điểm quyết định đă diễn ra. Thời điểm này ở vào đầu những năm 30 thuộc thế kỷ thứ nhất, sau thời gian ngài bách hại Giáo Hội. Người ta đă viết nhiều về vấn đề này và dĩ nhiên các quan diểm cũng khác nhau. Một điều chắc chắn là một bước ngoặt đă diễn ra trên con đường đó và thậm chí có thể nói một sự đảo ngược quan điểm hoàn toàn. Từ lúc đó, ngài bắt đầu coi tất cả những ǵ trước đây là lư tưởng cao cả nhất, là lư do sống c̣n của ḿnh như “thiệt tḥi” và “rác rưởi” (xem Pl 3, 7-8). Điều ǵ đă xảy ra?

2. Hai nguồn tài liệu: công vụ tông đồ và các thư của thánh Phaolô

Về điểm này, chúng ta có hai nguồn tài liệu. Nguồn thứ nhất là những chuyện kể của thánh Luca. Thánh sử thuật lại biến cố đó ba lần trong Công vụ tông đồ (xem 9, 11-19; 22, 3-21; 26, 4-23). Đây là nguồn tài liệu được biết đến nhiều nhất. Người đọc thường bị cám dỗ dừng lại trước một số chi tiết như: ánh sáng từ trời, ngă xuống đất, tiếng Chúa nói, mù loà, không ăn không uống ba ngày, những cái như vảy bong ra khỏi mắt khi được chữa lành. Thực ra, những chi tiết đó đều nhắm nói đến một biến cố: Đức Kitô phục sinh xuất hiện như một ánh sáng rực rỡ và Người nói với Saolê, Người biến đổi tư tưởng và chính đời sống ngài. Ánh sáng rực rỡ của Đấng Phục Sinh đă làm ngài mù loà: dấu hiệu bên ngoài đó chỉ một thực tại bên trong: sự mù loà của Saolê đối với chân lư, với ánh sáng là Đức Kitô. Và sau đó, lời thưa “vâng” trong  Phép Rửa lại mở đôi mắt ngài ra, giúp ngài thực sự nh́n thấy.

Trong Giáo Hội sơ khai, Phép Rửa cũng được gọi là “chiếu sáng” v́ bí tích này ban ánh sáng, giúp người lănh nhận thực sự nh́n thấy. Như vậy, điều được nói đến theo thần học cũng được thực hiện nơi thánh Phaolô theo thể lư: được chữa lành sự mù loà nội tâm, nên ngài thấy rơ. Do đó, thánh Phaolô được biến đổi không phải nhờ một tư tưởng, mà là nhờ một biến cố, đó là sự hiện diện chắc chắn của Đấng Phục Sinh. Từ đó về sau, ngài không bao giờ nghi ngờ về sự hiển nhiên của biến cố đó, về sự gặp gỡ đó, một biến cố thật mănh liệt đối với ngài. Nó làm cuộc đời ngài thay đổi tự nền tảng; và theo ư nghĩa đó, chúng ta có thể nói đến một sự hoán cải. Cuộc gặp gỡ đó là trọng tâm trong chuyện kể thánh Luca thuật lại. Chắc chắn, thánh sử đă sử dụng câu chuyện đă có trong cộng đồng tín hữu Đamas. Sắc thái địa phương như sự hiện diện của Anania và tên các đường phố cũng như tên chủ nhà nơi thánh Phaolô trú ngụ (xem Cv 9,11) cho phép nghĩ như vậy.

Nguồn tài liệu thứ hai về sự hoán cải của thánh Phaolô nằm trong các Thư của chính ngài. Ngài không bao giờ nói chi tiết về biến cố đó. Điều này có thể là do mọi người đều biết điểm chính yếu của câu chuyện trên, và đều biết kẻ bách hại đạo trước đây đă biến đổi trở nên ngướ tông đồ nhiệt thành của Đức Kitô. Và sự biến đổi đó không phải là kết quả của những suy tư cá nhân, mà do một biến cố trọng đại, một gặp gỡ với Đấng Phục Sinh. Dù không nói đến chi tiết, nhưng nhiều lần ngài đề cập đến sự kiện rất quan trọng này, nghĩa là chính ngài cũng là người làm chứng về sự phục sinh của Đức Giêsu, chính từ Đấng ấy, ngài đă trực tiếp lănh nhận mặc khải, cùng với sứ mạng tông đồ.

Bản văn rơ rệt nhất về điểm này nằm trong câu chuyện ngài kể về trọng tâm của lịch sử cứu độ: đó là cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu cùng với những lần hiện ra với các chứng nhân (1 Cr 15). Bằng những lời thuộc truyền thống cổ xưa đă nhận lănh từ Giáo Hội Giêrusalem, ngài nói Đức Giêsu đă chịu đóng đinh, đă chết, được mai táng và phục sinh, rồi Người hiện ra trước hết với Kêpha, tức Phêrô, rồi với Nhóm Mười Hai, Sau đó, Người hiện ra với 500 anh em mà phần đông hiện nay c̣n sống, tiếp đến, Người hiện ra với Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Cuối cùng, ngài thêm: “Sau hết, Người cũng đă hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non” (1Cr 15,8). Khi nói như vậy, ngài có ư cho chúng ta hiểu đó là nền tảng cho sứ mạng tông đồ và đời sống mới của ngài. C̣n những bản văn khác cũng nói như vậy: “Nhờ Người (Đức Giêsu), chúng tôi đă nhận được đặc ân và chức vụ Tông đồ” (Rm 1,5) và “Tôi đă không thấy Đức Giêsu, Chúa chúng ta sao?” (1Cr 9,1), những lời ngài ám chỉ điều ai nấy đều biết. Sau cùng, bản văn phổ biến nhất là Gl 1, 15-17: “Nhưng Thiên Chúa đă dành riêng tôi ngay từ khi tôi c̣n trong ḷng mẹ, và đă gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đă đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đă chẳng thuận theo các lư do tự nhiên, cũng chẳng lên Giê-ru-sa - lem để gặp các vị đă là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đă sang xứ Ả-rập, rồi lại trở về Đa-mát.” Trong những lời “tự biện hộ” này, ngài quả quyết chính ngài cũng là một chứng nhân đích thực của Đấng Phục Sinh và ngài đă trực tiếp lănh nhận một sứ mạng từ Đấng Phục Sinh.

3. Hoán cải nhờ gặp gỡ Đức Kitô

Như vậy, chúng ta thấy cả hai nguồn tài liệu, Công vụ tông đồ và Các Thư của thánh Phaolô, đều nhất trí qui về một điểm nền tảng: Đấng Phục Sinh đă nói với Phaolô, Người đă kêu gọi ngài thi hành chức vụ tông đồ, Người đă làm cho ngài trở nên một tông đồ đích thực, một chứng nhân của sự phục sinh, với trách nhiệm đặc biệt là loan báo Tin Mừng cho dân ngoại, cho thế giới Hy Lạp-Rôma. Đồng thời, Phaolô cũng học biết rằng, dù có mối liên hệ trực tiếp với Đấng Phục Sinh, ngài vẫn phải hiệp thông với Giáo Hội, phải được chịu Phép Rửa, phải sống hoà hợp với các tông đồ khác. Chỉ trong hiệp thông với mọi người, ngài mới có thể là một tông đồ thực sự. Thánh Phaolô đă viết rơ ràng điều đó trong thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô: “Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, th́ chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đă tin như vậy.” (15,11). Chỉ có một loan báo về Đấng Phục Sinh v́ chỉ có một Đức Kitô mà thôi.

Trong tất cả những bản văn trên, có thể thấy không bao giờ thánh Phaolô diễn dịch giờ phút trên đường Đamas là một cuộc hoán cải. Tại sao? Có nhiều giả thuyết, nhưng một lư do hiển nhiên nhất, đó là bước ngoặt cuộc đời ngài, sự biến đổi toàn bộ con người ngài không phải là kết quả của một tiến tŕnh tâm lư, một sự trưởng thành hoặc một sự tiến triển về trí thức và luân lư, nhưng lư do đó đến từ bên ngoài: chính là nhờ gặp gỡ Đức Giêsu Kitô. Theo nghĩa này, đó không đơn thuần là một cuộc hoán cải, một sự trưởng thành của cái “tôi”, nhưng là sự chết đi và sống lại cho chính ḿnh: chết đi đối với đời sống cũ và sinh lại trong đời sống mới với Đức Kitô phục sinh. Không c̣n cách giải thích nào khác đối với sự đổi mới của thánh Phaolô. Chính cuộc gặp gỡ rất sâu đậm với Đức Kitô là ch́a khoá giúp hiểu những ǵ đă xảy ra: Đấng tỏ ḿnh ra và nói với ngài cũng chính là Đấng đă chết và phục sinh, nơi Đấng ấy, có một sự đổi mới hoàn toàn. Với ư nghĩa sâu xa đó, chúng ta có thể và phải nói đến sự hoán cải. Cuộc gặp gỡ này là một canh tân thực sự làm đổi thay toàn bộ đời sống ngài. Giờ đây, có thể nói những ǵ là chính yếu và căn bản đối với ngài trước đây, chỉ c̣n là “rác rưởi”; những ǵ là “được”, th́ bây giờ là “mất”, bởi v́ bắt đầu từ bây giờ chỉ c̣n đời sống trong Đức Kitô là có giá trị.

Dù vậy, không nên nghĩ rằng thánh Phaolô mù quáng giam ḿnh vào một biến cố bởi v́ Đức Kitô phục sinh ngài gặp gỡ là ánh sáng chân lư, ánh sáng của chính Thiên Chúa. Ánh sáng đó mở rộng tâm hồn ngài, giúp ngài cởi mở với hết mọi người. Giờ đây, ngài không đánh mất những ǵ là tốt là thật đă có trong đời sống, trong di sản của ḿnh, trái lại, ngài đạt tới một cách hiểu mới về khôn ngoan, chân lư, chiều sâu của lề luật và các tiên tri; có thể nói ngài nắm bắt chúng theo một cách thế mới mẻ. Đồng thời lư trí ngài cũng cởi mở với khôn ngoan dân ngoại; nhờ hết ḷng cởi mở với Đức Kitô, nên ngài có khả năng đối thoại rộng răi với mọi người, trở nên mọi sự cho mọi người: ngài thực sự trở nên vị tông đồ dân ngoại.

4. Kitô hữu là người đă gặp gỡ Đức Kitô

Giờ đây, trở về với chính ḿnh, chúng ta tự hỏi: tất cả những điều đó muốn nói ǵ với tôi? Điều muốn nói với tôi, đó là kitô giáo không phải là một triết lư mới hay một luân lư mới. Chúng ta chỉ là kitô hữu khi gặp được Đức Kitô. Dĩ nhiên, Người không tỏ ḿnh ra cho chúng ta cách hiển nhiên như với thánh Phaolô. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể gặp gỡ Đức Kitô, cảm nhận được Người tận đáy sâu tâm hồn nhờ đọc Kinh Thánh, nhờ cầu nguyện, nhờ tham dự vào đời sống Phụng vụ của Giáo Hội. Chính trong tương quan mật thiết cá nhân với Đức Kitô, trong gặp gỡ với Đấng Phục Sinh, chúng ta mới thực sự là những kitô hữu. Nhờ gặp Đức Kitô, ḷng trí chúng ta mở ra đón nhận sự khôn ngoan của Người và mọi phong phú của chân lư Người mặc khải.

Do đó, hăy cầu xin Chúa soi sáng cho chúng ta, ban cho chúng ta được gặp Ngài trong thế giới chúng ta đang sống; nhờ đó, với một đức tin sống động, một tâm hồn cởi mở, một ḷng bác ái bao la đối với mọi người, chúng ta có thể canh tân thế giới này.

(Lm. Micae Lê Xuân Tân dịch từ bản pháp ngữ)

 


BÀI HỌC

(dành cho học viên lớn)

1. H. Sách nào trong Tân ước nói đến biến cố Đa-mát?

    T. Công vụ tông đồ và các thư của thánh Phaolô.

2. H. Có nên quá lưu tâm đến những chi tiết lạ lùng bên ngoài trong biến cố Đa-mát không?

    T. Không nên, v́ những chi tiết bên ngoài chỉ là dấu hiệu cho biết điều xảy ra trong tâm hồn. Mù loà đôi mắt chỉ sự mù loà tâm hồn: Phaolô không nh́n thấy Đức Kitô là ánh sáng, là chân lư cứu độ. Nhờ phép Rửa chữa lành sự mù loà, Phaolô đă nh́n thấy Đức Kitô và gặp được Người.

3. H. Các thư của thánh Phaolô nói ǵ về biến cố Đa - mát?

    T. Các thư của ngài không nói đến những chi tiết lạ lùng của biến cố Đa-mát, mà chỉ nói Đức Kitô Phục Sinh đă hiện ra với ngài và trao cho ngài sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại.

4. H. Công vụ tông đồ và các thư của thánh Phaolô có điểm chung nào?

    T. Điểm chung của cả hai tài liệu là: Đức Kitô Phục Sinh đă hiện ra với Phaolô, kêu gọi ngài làm tông đồ, trao cho ngài sứ mạng loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho dân ngoại.

5. H. Sự hoán cải của thánh Phaolô phải được hiểu thế nào cho đúng?

    T. Đó không phải là một tiến triển đi đến trưởng thành về hiểu biết hoặc đạo đức, nhưng là một đổi đời hoàn toàn, một sự chết đi và sống lại: đời sống cũ chết đi và đời sống mới bắt đầu nhờ gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh.

6. H. Cuộc hoán cải của thánh Phaolô dạy chúng ta bài học nào?

    T. Đạo công giáo của chúng ta không phải là một cách sống mới, một luân lư mới, nhưng là một gặp gỡ với Đức Kitô Phục Sinh nhờ cầu nguyện, nhờ tham dự vào đời sống phụng vụ của Giáo Hội, nhất là thánh lễ.

 

BÀI HỌC

(dành cho trẻ em)

1- H. Ư nghĩa của biến cố trên đường Đa-mát là ǵ ?

     T. Đó là kinh nghiệm hoán cải của Thánh Phao lô đă nhận được từ sự gặp gỡ với Chúa Ky tô phục sinh.

2- H. Dựa vào đâu ta biết được kinh nghiệm này ?

     T. Dựa vào hai nguồn tài liệu này: một là sách Tông đồ Công vụ. Hai là các thư của chính Thánh Phaolô.

3- H. Sách Tông đồ Công vụ đă nói ǵ ?

     T. Đă kể lại việc Chúa Kitô phục sinh xuất hiện trong một luồng ánh sáng rực rỡ, đă nói với Thánh Phaolô, và đă biến đổi tư tưởng và đời sống của Ngài.

4- H. Các thư của Thánh Phaolô đă nói ǵ ?

     T. Ngài không bao giờ nói chi tiết về biến cố này, chỉ nói ngài đă gặp Đức Kitô Phục Sinh và được Chúa trao sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại.

5- H. Chúng ta phải hiểu sự hoán cải của thánh Phaolô thế nào?

     T. Đó là một đổi đời: đời sống cũ chết đi và đời sống mới bắt đầu nhờ gặp gỡ Đức Kitô.

6- H. Kitô hữu là ai?

     T. Ta chỉ là người Kitô hữu, khi ta gặp gỡ Đức Kitô nhờ cầu nguyện, nhờ tham dự vào đời sống phụng vụ của Giáo Hội, nhất là thánh lễ.

 


 BÀI ĐỌC THÊM

(Chuyển ư từ cuốn “Saint Paul, face à lui-même”, ĐHY Carlo Maria Martini, trang 12-23)

*ĐỌC KỸ CÁC ĐOẠN TÂN ƯỚC ĐƯỢC GHI CHÚ TRONG PHẦN QUẢNG DIỄN VÀ PHẦN ĐỌC THÊM SAU ĐÂY.

I. MỘT SỐ GIẢI THÍCH DỄ LÀM BIẾN CỐ ĐAMAS BỊ HIỂU SAI.

Đây là biến cố thường được nói đến nhiều nhất trong giáo lư, phụng vụ, nghệ thuật. Các bức tranh thường vẽ thánh Phaolô trên lưng ngựa, ngă xuống và một luồng ánh sáng bao trùm ngài. Những chi tiết đó làm biến cố Đamas mất ư nghĩa đích thực. Chúng cũng làm cho hoạt động của Chúa trong tâm hồn con người bị hiểu sai.

1. Giải thích biến cố Đamas như một hoán cải luân lư.

Thánh Phaolô là một người rất tội lỗi và vào một giờ phút nào đó, hiểu được điều ác ḿnh làm, ngài thay đổi đời sống. Sự hoán cải về phương diện luân lư chứng tỏ một ư chí kiên cường, một sự trở về sâu xa trên phương diện t́nh cảm và một tiến triển nội tâm. Theo cái nh́n này, mọi sự đều tập trung vào con người trước đây của thánh Phaolô thế nào; vào những nỗ lực để thay đổi đời sống, và vào con người bây giờ của ngài đă biến đổi thế nào.

2. Giải thích biến cố Đamas: thánh Phaolô là người thay đổi ngọn cờ.

Trước đây, ngài là người nhiệt thành tuân giữ Lề Luật (đạo Do Thái), c̣n bây giờ, đột nhiên, ngài chọn một hướng đi mới, dấn thân không mệt mỏi để phục vụ dưới một ngọn cờ mới, đó là ngọn cờ của Đức Kitô. Như vậy, biến cố này chỉ là sự thay đổi: thay đổi phương pháp, thay đổi Giáo Hội: trước đây ngài phục vụ Hội Đường, bầy giờ phục vụ Giáo Hội của Đức Kitô. Đối với ngài, Giáo Hội đó là con đường cao siêu hơn để thực hiện lư tưởng của ḿnh. Đây là cách giải thích chúng ta thường thấy trong lịch sử kitô giáo. Cái chúng ta gọi là những hoán cải chỉ là những thay đổi đảng phái; và đôi khi, c̣n đổi lần nữa là theo một ngọn cờ thứ ba.

Theo cách giải thích này, th́ không phải thánh Phaolô hoán cải mà ngài chỉ thay đổi chiến tuyến. Hậu quả là chúng ta sẽ giải thích sự hoán cải của chúng ta cũng như của người khác với những tiêu chuẩn đó; làm như vậy, là coi nhẹ hành động của Thiên Chúa.

3. “Sự hoán cải của thánh Phaolô”: nói như vậy có đúng không?

Thánh Phaolô không bao giờ gọi biến cố Đamas là sự hoán cải. Khi dùng cách giải thích này, có lẽ chúng ta không hiểu nhiều về những ǵ xảy đến với ngài. Chúng ta vội vă gán cho nó một nhăn hiệu, xếp nó vào một loại sẵn có, mà không t́m hiểu đến nơi đến chốn.

Từ “hoán cải” là một từ đặc biệt của Tân ước. Ngày xưa, trong bản dịch Vulgata, từ này được gọi là “sám hối”. Rơ ràng có sự thay đổi từ ngữ. Có thời, người ta dịch lựi Đức Giêsu rao giảng trong Marcô 1, 15: “Hăy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Đây là cách dịch từ la-tinh poenitemini theo nghĩa đen. Ngày nay, chúng ta dịch là “hăy hoán cải”. Từ “hoán cải” đă thay thế cho từ “hăy ăn năn” hay “hăy sám hối”. Từ “hoán cải” phát xuất từ tiếng do thái có nghĩa là “trở lại”. Chuyển hướng hay hoán cải chính là đang đi theo một hướng, người ta dừng lại một chút rồi quay trở lại phía sau.

Trong Tân ước, ư tưởng quay trở về được diễn tả bằng hai động từ trong Tin Mừng Nhất Lăm và Công vụ tông đồ: “metanoéin” có nghĩa là thay đổi năo trạng; và “epistréfo” có nghĩa đúng là “trở lại”. Đôi khi những từ này được dịch là “hăy sám hối” để thay đổi ngôn từ cho bản văn phong phú, nhưng nghĩa đúng của nó là “thay đổi đời sống”, “thay đổi năo trạng”,  là “trở về”. Ngay cả từ “hăy sám hối” cũng có nghĩa là “trở về” v́ nó nói đến một đau buồn trong ḷng do lỗi lầm đă phạm, hoặc sự thống hối chúng ta làm để chứng tỏ ḿnh đă thay đổi.

C̣n thánh Phaolô, ngài không bao giờ diễn tả những ǵ xảy đến với ngài bằng từ “hoán cải”. Ngài không nói đến sự thay đổi năo trạng hoặc trở về. Dĩ nhiên, ngài hiểu hoán cải nghĩa là ǵ và những ǵ xảy đến với ngài cũng bao hàm tất cả những đặc tính của sự hoán cải. Tuy nhiên, biến cố ngài trải qua c̣n có một ư nghĩa rộng lớn hơn và sâu xa hơn. Cần nói thêm, trong khi các Tin Mừng nhất lăm dùng từ hoán cải th́ thánh Gioan không bao giờ sử dụng từ đó. Điều này chứng tỏ rằng trong Tân ước, có những quan điểm khác nhau để diễn tả sự phức tạp của tiến tŕnh con người đi về với Thiên Chúa. Thánh Gioan thích nói: đến với Đức Giêsu, đến với Người, đi đến Người hơn. Ư tưởng căn bản của hoán cải – theo nghĩa sâu xa của Kinh Thánh – được diễn tả trong Tin Mừng thứ tư bằng từ ngữ: những tương quan cá nhân với Đức Giêsu, hoặc bằng những từ: đi theo Người. Nghĩa này gần với ư nghĩa của biến cố Đamas của thánh Phaolô.

II. BIẾN CỐ ĐAMAS LÀ MỘT MẦU NHIỆM

Trước hết, điều đáng ngạc nhiên là thánh Phaolô ít nói tới biến cố Đamas. Đâu là những bản văn ngài đề cập tới biến cố này?

1. Trong các thư lớn, chỉ có thư gởi các tín hữu Galát nói đến biến cố Đamas: “Nhưng Thiên Chúa đă dành riêng tôi ngay từ khi tôi c̣n trong ḷng mẹ, và đă gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đă đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại...” (Gl 1,15 - 16). Để nói về biến cố Đamas, ngài dùng bốn động từ: Người đă chọn tôi (dành riêng tôi ra), đă gọi tôi, đă mặc khải Con của Người cho tôi … để tôi loan báo Tin Mừng. Trong bốn động từ, chỉ có động từ thứ ba là ám chỉ đến sự hoán cải của ngài. Các động từ khác đặt sự hoán cải trong bối cảnh ư định quan pḥng của Thiên Chúa.

Như vậy, thánh Phaolô tŕnh bày điều chính yếu xảy đến với ngài, chính là ngài được Con Thiên Chúa mặc khải và được trao phó việc rao giảng Tin Mừng.

2. Trong đoạn văn của thư gởi các tín hữu Rôma, thánh Phaolô chuyển những ǵ làm nên kinh nghiệm riêng của ḿnh vào một bối cảnh rộng lớn hơn: “V́ những ai Người đă biết từ trước, th́ Người đă tiền định cho họ nên đồng h́nh đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. Những ai Thiên Chúa đă tiền định, th́ Người cũng kêu gọi; những ai Người đă kêu gọi, th́ Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đă làm cho nên công chính, th́ Người cũng cho hưởng phúc vinh quang.” (Rm 8, 29-30).

3. C̣n trong thư thứ nhất gởi các tín hữu Côrintô, ngài đề cập đến biến cố đó rất vắn tắt trong bối cảnh bút chiến: “Tôi không tự do ư? Tôi không phải là tông đồ ư ? Tôi đă không thấy Đức Giê-su, Chúa chúng ta sao? Anh em không phải là công tŕnh của tôi trong Chúa sao?” (1 Cr 9,1). Biến cố Đamas chính là sự “nh́n thấy Thiên Chúa”. Sau đó trong thư, ngài c̣n thêm: “Sau hết, Người cũng đă hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non. Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, v́ đă ngược đăi Hội Thánh của Thiên Chúa.” (1Cr 15,8-15). Đối với thánh Phaolô, biến cố Đamas được giải thích là sự hiện ra “cho tôi là kẻ bất xứng”. Ở đây, có nói tới sự hoán cải luân lư, nhưng sự kiện chính yếu, đó là Đức Giêsu đă hiện ra với ngài.

4. Một đoạn văn quan trọng khác cho biết thánh Phaolô đă đón nhận biến cố đó thế nào: “Mặc dầu tôi đây, tôi có lư do để cậy vào xác thịt. Nếu ai khác có lư do để cậy vào xác thịt, th́ tôi càng có lư do hơn: tôi chịu cắt b́ ngày thứ tám, thuộc ḍng dơi Ít-ra-en, họ Ben-gia - min, là người Híp-ri, con của người Híp-ri; giữ luật th́ đúng như một người Pha-ri-sêu; nhiệt thành đến mức ngược đăi Hội Thánh; c̣n sống công chính theo Lề Luật, th́ chẳng ai trách được tôi. Nhưng, những ǵ xưa kia tôi cho là có lợi, th́ nay, v́ Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt tḥi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt tḥi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. V́ Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người. Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Mô-sê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do ḷng tin vào Đức Ki-tô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên ḷng tin.” (Pl 3,4-9). Có thể nói sau biến cố Đamas, có sự đảo ngược hoàn toàn các giá trị; những ǵ trước đây đối với ngài là quan trọng th́ bây giờ chỉ là con số không, không c̣n ǵ đáng ngài lưu tâm nữa. Những ǵ trước đây ngài không muốn từ bỏ th́ bây giờ lại làm ngài kinh tởm, bởi v́ sự hiểu biết Đức Kitô đă trở nên mối quan tâm sống c̣n của ngài. Sự gặp gỡ, sự hiểu biết, sự viên măn của Đức Kitô khiến ngài xét lại những đánh giá và bậc thang giá trị trước đây.

5. Một đoạn văn quan trọng khác: “Quả thật, xưa Thiên Chúa đă phán: Ánh sáng hăy bừng lên từ nơi tối tăm ! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi ḷng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Ki-tô.”  (2 Cr 4,6). Ở đây, bản văn có ư nói đến tất cả các tông đồ, nhưng mang một âm vang đặc biệt nếu áp dụng vào trường hợp hoán cải của thánh Phaolô. Thiên Chúa Sáng Tạo đă chiếu sáng tâm hồn ngài và soi sáng cho ngài hiểu sự phong phú khôn ḍ của Đức Kitô và đời sống của Người.

6. Đoạn văn cuối cùng giải thích rơ nhất sự hoán cải của thánh Phaolô trên b́nh diện luân lư. Dù không thể coi thường khía cạnh này, nhưng cách giải thích đó cũng gặp nhiều vấn nạn trên phương diện ngôn ngữ: “Tôi tạ ơn Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta, Đấng đă ban sức mạnh cho tôi, v́ Người đă tín nhiệm mà gọi tôi đến phục vụ Người. Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đă được Người thương xót, v́ tôi đă hành động một cách vô ư thức, trong lúc chưa có ḷng tin.” (1Tm 1,12-13). Có thật thánh Phaolô là một kẻ tội lỗi về phương diện luân lư? V́ trong thư gởi tín hữu Philipphê ngài nói: “C̣n sống công chính theo Lề Luật, th́ chẳng ai trách được tôi.” Rồi ngài tiếp tục: “Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta, đă ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người. Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Ki-tô Giê - su đă đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi. Sở dĩ tôi được thương xót, là v́ Đức Giê-su Ki-tô muốn tỏ bày tất cả ḷng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai sẽ tin vào Người, để được sống muôn đời.” (1Tm 1,14-16). Đó là tất cả những ǵ bí ẩn, mầu nhiệm của sự hoán cải trong biến cố Đamas. Ư nghĩa của nó thật phong phú mà cũng thật khó hiểu.

Bởi vậy, biến cố Đamas có một ư nghĩa phức tạp, chứ không chỉ là một hành vi hoán cải luân lư đơn thuần hoặc chỉ là một sự thay đổi năo trạng.

III. NHỮNG CÂU HỎI CHO CHÚNG TA

1. Trong đời sống tôi, có những giây phút hoán cải “lịch sử” mà tôi không bao giờ quên không?  Nếu không có những giây phút hoán cải “lịch sử”, tôi có những giờ phút biến đổi, những cuộc khủng hoảng, qua đó, tôi nắm bắt mầu nhiệm Thiên Chúa một cách mới mẻ không?

2. Trong đời sống đạo, nếu chưa bao giờ xảy đến một đổi mới năo trạng như thánh Phaolô, chúng ta khó có thể tiến bước trong đời sống thiêng liêng. Do đó, chúng ta chỉ c̣n cách là cầu nguyện cùng Chúa xin Người soi sáng cho ta hiểu biết đời sống của ta, quá khứ của ta, nhờ đó, ta nhận ra ta cần đổi mới đời sống ta thế nào.

 

Lm. Micae Lê Xuân Tân