Bài 2. CHÂN DUNG NHÀ TRUYỀN GIÁO PHAOLÔ

 

Đức Giáo Hoàng BÊNÊĐICTÔ

 

Những ǵ chúng ta biết về cuộc đời thánh Phaolô nằm trong thư gởi ông Philêmon. Trong thư này, ngài nói ḿnh “già” (Philêmon 9: Presbytes) và trong Công Vụ Tông Đồ, ngài được gọi là “trẻ” khi Stêphanô bị ném đá (Cv 7,58: neanias). Cả hai cách nói đều đặc biệt, nhưng theo cách tính của người xưa, ai khoảng tuổi 30 được coi là “trẻ”, c̣n tuổi 60 th́ gọi là “già”. Như vậy, ngày sinh của thánh Phaolô lệ thuộc vào thời gian thư Philêmon được viết ra. Theo truyền thống, thư này được viết trong thời gian ngài bị tù ở Rôma, nghĩa là vào giữa những năm 60. Do đó, thánh Phaolô có lẽ sinh vào năm thứ 8, và lúc Stêphanô bị ném đá, ngài 30 tuổi. Năm thánh Phaolô được mừng theo cách tính này.

Chắc chắn, thánh Phaolô sinh tại Tarsô, thủ phủ miền Cilicia (xem Cv 22,3). Năm 51 trước Chúa Giêsu, thủ hiến của thành phố này là Marcô Tullius Cicêron, và sau đó, năm 41, Tarsô là nơi Marcô Antôniô và nữ hoàng Ai Cập Clêôpatra gặp nhau lần đầu tiên. Là người Do Thái lưu vong, thánh Phaolô nói tiếng Hy lạp, trong khi tên lại có gốc la-tinh, phát xuất từ âm trùng của tiếng Do Thái Saolê/ Saulos. Ngài là công dân Rôma (xem Cv 22, 25-28). Ngài chịu ảnh hưởng của ba nền văn hoá – Rôma, Hy Lạp và Do Thái – Có lẽ v́ thế ngài dễ cởi mở rộng răi. Ngài cũng học nghề tay chân, có lẽ từ cha của ngài, đó là nghề dệt lều (xem Cv 18,3: skenopoios). Đây là nghề dệt thảm hoặc lều từ len thô hoặc sợi len (Cv 20, 33-35). Vào tuổi 12 hoặc 13, tuổi mà các trẻ trai Do Thái trở thành “bar mitzvà” (con của giới luật), thánh Phaolô rời Tarsô đến Giêrusalem học với ráp-bi Gamaliel, cháu của ráp-bi nổi tiếng Hillel, tuân theo những luật lệ nghiêm ngặt của phái Pharisiêu, và do nền giáo dục đó, ngài rất nhiệt thành với Luật Môsê. (xem Gl 1, 14; Pl 3,5-6; Cv 22,3; 23,6; 26,5).

Trên nền tảng giáo lư chính thống sâu xa đă học trong trường của Hillel ở Giêrusalem, ngài cho rằng phong trào mới dựa vào danh Giêsu Nadarét là một nguy cơ, một đe doạ cho căn tính Do Thái, cho giáo lư chính thống của các tổ phụ. Điều này giải thích sự kiện ngài “hăng say bách hại Giáo Hội Chúa” như ngài nh́n nhận trong các thư 1 Cr 15,9; Gl 1,13; Pl 3,6.   Mặc dù không dễ dàng nói cụ thể sự bách hại này là ǵ, vẫn có thể nói thái độ của ngài là không khoan nhượng.  Chính đây là điểm cần để xác định biến cố Damas mà chúng ta sẽ đề cập đến. Chắc chắn là từ biến cố đó, đời sống ngài thay đổi trở thành một tông đồ miệt mài rao giảng Tin Mừng. Thực vậy, lịch sử biết đến ngài như một Kitô hữu hoặc như một tông đồ hơn là một người pharisiêu. Truyền thống phân chia hoạt động tông đồ của ngài dựa trên ba hành tŕnh truyền giáo, và thêm hành tŕnh thứ tư đến Rôma như một tù nhân. Thánh Luca kể lại tất cả trong Công Vụ Tông Đồ. Riêng về ba hành tŕnh truyền giáo, cần phân biệt hành tŕnh thứ nhất với hai hành tŕnh c̣n lại.

Thực sự, thánh Phaolô không lănh trách nhiệm trực tiếp trong hành tŕnh truyền giáo thứ nhất (xem Cv 13,14). Hành tŕnh này được trao phó cho Barnabê, người đảo Chypre. Cả hai cùng rời Antiôkia đến Ôrontê, do Giáo hội Antiôkia sai đi (Cv 13, 1-3) và sau khi đáp tàu ở cảng Sêlêxia trên bờ biển Syria, họ băng qua đảo Chypre miền Salamine đến Paphos; từ đó, họ đi đến vùng bờ biển miền Nam Anatolia, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, và tới các thành phố Attalia, Pergê miền Pamphylia, Antiôkia miền Pisidia, Iconium, Lystra và Derbê, từ nơi này, cả hai trở về Antiôkia. Chính nhờ hành tŕnh truyền giáo này, Giáo Hội các dân được khai sinh. Trong lúc đó, đặc biệt ở Giêrusalem, một cuộc tranh luận gay gắt đă nổ ra về việc các kitô hữu gốc ngoại giáo phải sống và giữ luật Do Thái đến mức độ nào để thực sự tham dự vào lời hứa do các tiên tri loan báo và được hưởng gia nghiệp của Israel. Để giải quyết vấn đề nền tảng này, công đồng các tông đồ đă hội họp ở Giêrusalem. Đây là một vấn đề  quan trọng. Sự khai sinh giáo hội phổ quát trong tương lai hoàn toàn tuỳ thuộc vào đó. Công đồng các tông đồ đă quyết định không bắt buộc người ngoại giáo trở lại phải giữ luật Môsê (xem Cv 15, 6.30): nghĩa là họ không bị bắt buộc phải sống hợp với những luật lệ Do thái giáo, chỉ một điều cần thiết là thuộc về Đức Kitô, sống với Người và tuân giữ lời Người. Như vậy, thuộc về Đức Kitô, họ cũng thuộc về Abraham, thuộc về Thiên Chúa và tham dự vào mọi lời hứa.

Sau biến cố quyết định này, thánh Phaolô tách khỏi Barnabê, ngài chọn Silas và bắt đầu hành tŕnh truyền giáo thứ hai (xem Cv 15, 36-18,22). Sau khi đă đi qua Syria và Cilicia, ngài trở lại thành phố Lystra, nơi ngài tiếp nhận Timôthê (một khuôn mặt rất quan trọng của Giáo Hội sơ khai, có mẹ là người Do Thái và cha là dân ngoại), ngài truyền cho Timôthê chịu cắt b́. Kế đó, ngài băng qua miền trung Anatolia và đến thành phố Troa trên miền duyên hải phía Bắc biển Êgiê. Chính ở nơi mới này, một biến cố quan trọng đă xảy ra: ngài nằm mơ thấy một người xứ Macêđônia từ bờ biển bên kia, nghĩa là từ Âu châu, nói với ngài: “Hăy đến cứu giúp chúng tôi!”. Đó là Âu châu tương lai cầu xin sự giúp đỡ và ánh sáng Tin Mừng. Từ nơi đó, ngài đáp tàu đi Macêđônia, nghĩa là đến Âu châu. Lên bờ ở Nêapôli, ngài đến Philipphê, tại đây, ngài lập một cộng đoàn nhiệt thành, đạo đức, rồi ngài đến Thessalônica, kế đó, v́ người Do Thái gây khó dễ, ngài rời nơi này qua Bêrê đến Athena.

Tại thủ đô của nền văn hoá cổ Hy lạp, đầu tiên, ngài rao giảng cho người Hy lạp và người ngoại giáo ở Agora, rồi ở Arêôpagô. Và diễn từ ở Arêôpagô được sách Công Vụ thuật lại là khuôn mẫu cho cách thế diễn dịch Tin Mừng trong văn hoá Hy lạp, giúp họ hiểu rằng Thiên Chúa của các Kitô hữu, của người Do Thái không phải là một Thiên Chúa xa lạ với văn hoá của họ, nhưng là Thiên Chúa vô danh họ đang mong đợi, và Thiên Chúa đó là lời đáp thực sự cho những câu hỏi sâu xa nhất trong văn hoá của họ. Rồi từ Athena, ngài đến Côrintô, và ở lại đó một năm rưỡi. Tại đây, chúng ta có một biến cố rất chắc chắn về tiểu sử của ngài. Trong thời gian đầu tiên lưu lại Côrintô, ngài đă phải tŕnh diện trước tổng đốc tỉnh Achaia là thủ hiến Gallion v́ bị tố cáo là thờ phượng trái phép. Về Gallion và thời của ông này tại Côrintô, một tấm bia cổ được t́m thấy tại Delphê có khắc Gallion là thủ hiến Côrintô từ năm 51 đến 53. Do đó, chúng ta có một ngày tháng chắc chắn. Thánh Phaolô đă lưu lại Côrintô trong những năm đó, trước hoặc sau năm 51 và ở tới năm 52. Rồi từ Côrintô qua Cencrê, hải cảng phía đông của thành phố, ngài đi Palestine, đến Cêsarêa Maritimê, từ đó, ngài lên Giêrusalem rồi trở về Antiôkia qua Ôrontô.

Hành tŕnh truyền giáo thứ ba (xem Cv 18, 23 – 21, 16) cũng bắt đầu từ Antiôkia, nơi trở thành khởi điểm của Giáo Hội dân ngoại, của công cuộc truyền giáo cho dân ngoại, và đó cũng là nơi sản sinh từ “Kitô hữu”. Theo thánh Luca, ở đây, lần đầu tiên, các môn đệ của Chúa Giêsu được gọi là “các kitô hữu”. từ Antiôkia, thánh Phaolô đi trực tiếp đến Êphêsô, thủ phủ của tỉnh Asia, ngài lưu lại tại đây hai năm, thi hành sứ vụ có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ trên toàn vùng. Từ Êphêsô, thánh Phaolô viết thư cho cộng đoàn Thessalônica và Côrintô. Tuy nhiên, dân chúng trong thành nổi lên chống đối ngài qua những thợ kim hoàn địa phương, do doanh thu họ bị giảm v́ người ta không c̣n sùng kính thần Artêmi (Artêmysion, ngôi đền thờ dành để thờ cúng thần Artêmi ở Êphêsô, là một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại); bởi vậy, ngài phải trốn về phía Bắc. Sau khi đi qua vùng Macêđônia, một lần nữa ngài lại xuống Hy Lạp, có lẽ tại Côrintô, ở lại đó ba tháng và viết bức thư nổi tiếng gởi cho cộng đoàn Rôma.

Từ Côrintô, thánh Phaolô trở lại đường cũ: ngài đi ngang qua Macêđônia tới Troa bằng tàu thuỷ, rồi ghé qua các đảo Mytilêna, Chiô và Samô, sau đó, đến Milêtô. Ở đây, ngài đă nói với các kỳ mục của Giáo Hội Êphêsô một diễn từ quan trọng. Diễn từ đó vẽ lên chân dung của người mục tử đích thực trong Giáo Hội (xem Cv 20). Từ Milêtô, ngài đáp thuyền đi Tyrô, rồi đến Cêsarê Maritimê, kế đó, một lần nữa, ngài lại lên Giêrusalem. Tại đây, ngài bị bắt v́ hiểu lầm: nhiều người Do thái cho rằng thánh Phaolô đă đưa những người ngoại giáo vào phần Đền thờ chỉ dành cho người Do Thái, trong khi những người đó thực ra là những người Do thái gốc Hy Lạp. Ngài thoát khỏi án tử h́nh nhờ sự can thiệp của cơ đội Rôma canh giữ trong khuôn viên đền thờ (xem Cv 21, 27-36). Biến cố xảy ra khi Antôniô Fêlix làm tổng đốc miền Giuđê. Sau một thời gian bị giam giữ, thánh Phaolô kêu nài đến hoàng đế Cêsar (lúc đó là Nêrôn) với tư cách công dân Rôma, nên Porcius Festus, tổng đốc kế nhiệm, áp giải ngài đến Rôma.

Hành tŕnh tới Rôma ngang qua các đảo vùng Địa Trung Hải là Crêta và Malta, rồi các thành phố Syracusa, Reggiô Calabria và Pozzuôli. Các kitô hữu Rôma đón gặp ngài trên đường Appia. Trong số họ, có người đến từ quảng trường Appius (70 km phía nam Rôma), một số khác đến từ Trê Tavernê (cách Rôma 40 km). Ngài cũng gặp đại diện cộng đoàn Do thái ở Rôma và nói với họ, ngài bị xiềng xích v́ “niềm hi vọng của Israel” (Cv 28,20). Tuy nhiên, tường thuật của thánh Luca kết thúc khi đề cập đến hai năm thánh Phaolô ở Rôma dưới sự canh giữ nhẹ nhàng của lính gác. Thánh Luca không nói ǵ đến phán quyết của Cêsar (tức Nêrôn), cũng như cái chết của thánh Phaolô. Theo truyền thống, ngài được tha bổng, rồi sau đó đi truyền giáo ở Tây Ban Nha, cũng như đến Đông phương, đặc biệt là Crêta, Êphêsô và Nicôpôli vùng Êpirô. Theo giả thuyết, người ta nói ngài bị bắt lần nữa và lại bị tống ngục ở Rôma (từ trong ngục, ngài viết ba lá thư gọi là các thư mục vụ, đó là hai thư gởi cho Timôthê và một thư gởi cho Titô). Vụ kiện thứ hai có lẽ đă không thuận lợi cho ngài. Tuy nhiên, v́ nhiều lư do, một số đông các chuyên gia về thánh Phaolô kết thúc tiểu sử của vị tông đồ theo tường thuật của sách Công Vụ Tông Đồ.

Nh́n lại các hành tŕnh truyền giáo của thánh Phaolô, chúng ta thấy ngài xả thân cho việc loan báo Tin Mừng khi đương đầu với nhiều thử thách khó khăn ngài kể trong thư thứ hai gởi cộng đoàn Côrintô (11,21-18). Đàng khác, chính ngài đă viết: “Tôi làm tất cả những điều đó v́ Tin Mừng” (1Cr 9,23), đang khi “lo lắng cho tất cả các Giáo hội” với ḷng quảng đại tuyệt đối (2Cr 11,28). Chúng ta thấy nơi ngài một sự dấn thân chỉ có thể được giải thích do một tâm hồn say mê ánh sáng Tin Mừng, yêu mến Đức Kitô, một tâm hồn được nâng đỡ bởi một xác tín sâu xa: đem ánh sáng Đức Kitô đến với thế giới và loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người là điều hết sức cần thiết. Có thể nói: nơi thánh Phaolô, hiện rơ niềm đam mê đối với Tin Mừng, và một trực giác sâu xa về sự vĩ đại, sự đẹp đẽ và sự thiết yếu sâu xa của Tin Mừng.

Xin Chúa là Đấng đă ban cho thánh Phaolô được thấy ánh sáng của Người, được nghe Lời của Người, được Người đụng chạm đến nơi sâu thẳm tâm hồn, cũng làm cho chúng ta thấy ánh sáng của Người, để ḷng chúng ta cũng được xúc động nhờ Lời của Người và nhờ đó, chính chúng ta cũng có thể đem ánh sáng Tin Mừng và chân lư của Đức Kitô đến cho thế giới hôm nay, một thế giới đang khát khao những điều đó.

 

Lm. Micae Lê Xuân Tân

(dịch từ bản tiếng Pháp)

 

BÀI QUẢNG DIỄN

(dành cho người dạy)

I. SUY NIỆM VÀ CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

 2Cr 11, 21b-29: Về những thử thách thánh Phaolô phải đương đầu và nỗi ưu tư khắc khoải của con người mục tử nơi ngài.

 Cv 20, 18-38: bài từ biệt ở Milêtô biểu lộ tấm ḷng của người mục tử sống chết v́ đoàn chiên.

II. QUẢNG DIỄN

Những ǵ chúng ta biết về cuộc đời thánh Phaolô nằm trong thư gởi ông Philêmon. Trong thư này, ngài nói ḿnh “già” (Philêmon 9: Presbytes) và trong Công vụ tông đồ, ngài được gọi là “trẻ” khi Stêphanô bị ném đá (Cv 7,58: neanias). Cả hai cách nói đều đặc biệt, nhưng theo cách tính của người xưa, ai khoảng tuổi 30 được coi là “trẻ”, c̣n tuổi 60 th́ gọi là “già”. Như vậy, ngày sinh của thánh Phaolô lệ thuộc vào thời gian thư Philêmon được viết ra. Theo truyền thống, thư này được viết trong thời gian ngài bị tù ở Rôma, nghĩa là vào giữa những năm 60. Do đó, thánh Phaolô có lẽ sinh vào năm thứ 8, và lúc Stêphanô bị ném đá, ngài 30 tuổi. Năm thánh Phaolô được mừng theo cách tính này.

Chắc chắn, thánh Phaolô sinh tại Tarsô, thủ phủ miền Cilicia (hoặc Kilikia) (xem Cv 22,3). Năm 51 trước Chúa Giêsu, thủ hiến của thành phố này là Marcô Tullius Cicêron, và sau đó, năm 41, Tarsô là nơi Marcô Antôniô và nữ hoàng Ai Cập Clêôpatra gặp nhau lần đầu tiên. Là người Do Thái lưu vong, thánh Phaolô nói tiếng Hy lạp, trong khi tên lại có gốc la-tinh, phát xuất từ âm trùng của tiếng Do Thái Saolê/ Saulos. Ngài là công dân Rôma (xem Cv 22, 25-28). Ngài chịu ảnh hưởng của ba nền văn hoá – Rôma, Hy Lạp và Do Thái – Có lẽ v́ thế ngài dễ cởi mở rộng răi. Ngài cũng học nghề tay chân, có lẽ từ cha của ngài, đó là nghề dệt lều (xem Cv 18,3: skenopoios). Đây là nghề dệt thảm hoặc lều từ len thô hoặc sợi len (Cv 20, 33-35). Vào tuổi 12 hoặc 13, tuổi mà các trẻ trai Do Thái trở thành “bar mitzvà” (con của giới luật), thánh Phaolô rời Tarsô đến Giêrusalem học với ráp-bi Gamaliel, cháu của ráp-bi nổi tiếng Hillel, tuân theo những luật lệ nghiêm ngặt của phái Pharisiêu, và do nền giáo dục đó, ngài rất nhiệt thành với Luật Môsê. (xem Gl 1, 14; Pl 3,5-6; Cv 22,3; 23,6; 26,5).

Trên nền tảng giáo lư chính thống sâu xa đă học trong trường của Hillel ở Giêrusalem, ngài cho rằng phong trào mới dựa vào danh Giêsu Nadarét là một nguy cơ, một đe doạ cho căn tính Do Thái, cho giáo lư chính thống của các tổ phụ. Điều này giải thích sự kiện ngài “hăng say bách hại Giáo Hội Chúa” như ngài nh́n nhận trong các thư 1 Cr 15,9; Gl 1,13; Pl 3,6.   Mặc dù không dễ dàng nói cụ thể sự bách hại này là ǵ, vẫn có thể coi thái độ của ngài là không khoan nhượng.  Chính đây là điểm cần để xác định biến cố Đamas mà chúng ta sẽ đề cập đến. Chắc chắn là từ biến cố đó, đời sống ngài thay đổi trở thành một tông đồ miệt mài rao giảng Tin Mừng. Thực vậy, lịch sử biết đến ngài như một kitô hữu hoặc như một tông đồ hơn là một người pharisiêu. Truyền thống phân chia hoạt động tông đồ của ngài dựa trên ba hành tŕnh truyền giáo, và thêm hành tŕnh thứ tư đến Rôma như một tù nhân. Thánh Luca kể lại tất cả trong Công vụ tông đồ. Riêng về ba hành tŕnh truyền giáo, cần phân biệt hành tŕnh thứ nhất với hai hành tŕnh c̣n lại.

Thực sự, thánh Phaolô không lănh trách nhiệm trực tiếp trong hành tŕnh truyền giáo thứ nhất (xem Cv 13,14). Hành tŕnh này được trao phó cho Barnaba, người đảo Chypre. Cả hai cùng rời Antiôkia đến Ôrontê, do Giáo hội Antiôkia sai đi (Cv 13, 1-3) và sau khi đáp tàu ở cảng Sêlêxia trên bờ biển Syria, họ băng qua đảo Chypre miền Salamine đến Paphos; từ đó, họ đi đến vùng bờ biển miền Nam Anatôlia, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, và tới các thành phố Attalia, Pergê miền Pamphylia, Antiôkia miền Pisidia, Icônium, Lystra và Derbê, từ nơi này, cả hai trở về Antiôkia. Chính nhờ hành tŕnh truyền giáo này, Giáo Hội các dân ngoại được khai sinh. Trong lúc đó, đặc biệt ở Giêrusalem, một cuộc tranh luận gay gắt đă nổ ra về việc các kitô hữu gốc ngoại giáo phải sống và giữ luật Do Thái đến mức độ nào để thực sự tham dự vào lời hứa do các tiên tri loan báo và được hưởng gia nghiệp của Israel. Để giải quyết vấn đề nền tảng này, công đồng các tông đồ đă hội họp ở Giêrusalem. Đây là một vấn đề  quan trọng. Sự khai sinh giáo hội phổ quát trong tương lai hoàn toàn tuỳ thuộc vào đó. Công đồng các tông đồ đă quyết định không bắt buộc người ngoại giáo trở lại phải giữ luật Môsê (xem Cv 15, 6, 30): nghĩa là họ không bị bắt buộc phải sống hợp với những luật lệ Do thái giáo, chỉ một điều cần thiết là thuộc về Đức Kitô, sống với Người và tuân giữ lời Người. Như vậy, thuộc về Đức Kitô, họ cũng thuộc về Abraham, thuộc về Thiên Chúa và tham dự vào mọi lời hứa.

Sau biến cố quyết định đó, thánh Phaolô tách khỏi Barnabê, ngài chọn Silas và bắt đầu hành tŕnh truyền giáo thứ hai (xem Cv 15, 36-18,22). Sau khi đă đi qua Syria và Cilicia, ngài trở lại thành phố Lystra, nơi ngài tiếp nhận Timôthê (một khuôn mặt rất quan trọng của Giáo Hội sơ khai, có mẹ là người Do Thái và cha là dân ngoại), ngài truyền cho Timôthê chịu cắt b́. Kế đó, ngài băng qua miền trung Anatôlia và đến thành phố Troa trên miền duyên hải phía Bắc biển Êgiê. Chính ở nơi mới này, một biến cố quan trọng đă xảy ra: ngài nằm mơ thấy một người xứ Macêđônia từ bờ biển bên kia, nghĩa là từ Âu châu, nói với ngài: “hăy đến cứu giúp chúng tôi!”. Đó là Âu châu tương lai cầu xin sự giúp đỡ và ánh sáng Tin Mừng. Từ nơi đó, ngài đáp tàu đi Macêđônia, nghĩa là đến Âu châu. Lên bờ ở Nêapôli, ngài đến Philipphê, tại đây, ngài lập một cộng đoàn nhiệt thành, đạo đức, rồi ngài đến Thessalônica, kế đó, v́ người Do Thái gây khó dễ, ngài rời nơi này qua Bêrê đến Athena.

Tại thủ đô của nền văn hoá cổ Hy lạp, đầu tiên, ngài rao giảng cho người Hy lạp và người ngoại giáo ở Agôra, rồi ở Arêôpagô. Và diễn từ ở Arêôpagô được sách Công vụ thuật lại là khuôn mẫu cho cách thế diễn dịch Tin Mừng trong văn hoá Hy lạp, giúp họ hiểu rằng Thiên Chúa của các kitô hữu, của người Do Thái không phải là một Thiên Chúa xa lạ với văn hoá của họ, nhưng là Thiên Chúa vô danh họ đang mong đợi, và Thiên Chúa đó là lời đáp thực sự cho những câu hỏi sâu xa nhất trong văn hoá của họ. Rồi từ Athena, ngài đến Côrintô, và ở lại đó một năm rưỡi. Tại đây, chúng ta có một biến cố rất chắc chắn về tiểu sử của ngài. Trong thời gian đầu tiên lưu lại Côrintô, ngài đă phải tŕnh diện trước tổng đốc tỉnh Achaia là thủ hiến Gallion v́ bị tố cáo là thờ phượng trái phép. Về Gallion và thời của ông này tại Côrintô, một tấm bia cổ được t́m thấy tại Delphê có khắc Gallion là thủ hiến Côrintô từ năm 51 đến 53. Do đó, chúng ta có một ngày tháng chắc chắn. Thánh Phaolô đă lưu lại Côrintô trong những năm đó, trước hoặc sau năm 51 và ở tới năm 52. Rồi từ Côrintô qua Cencrê, hải cảng phía đông của thành phố, ngài đi Palestine, đến Cêsarêa Maritimê, từ đó, ngài lên Giêrusalem rồi trở về Antiôkia qua Ôrontô.

Hành tŕnh truyền giáo thứ ba (xem Cv 18, 23 – 21, 16) cũng bắt đầu từ Antiôkia, nơi trở thành khởi điểm của Giáo Hội dân ngoại, của công cuộc truyền giáo cho dân ngoại, và đó cũng là nơi sản sinh từ “kitô hữu”. Theo thánh Luca, ở đây, lần đầu tiên, các môn đệ của Chúa Giêsu được gọi là “các kitô hữu”. từ Antiôkia, thánh Phaolô đi trực tiếp đến Êphêsô, thủ phủ của tỉnh Asia, ngài lưu lại tại đây hai năm, thi hành sứ vụ có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ trên toàn vùng. Từ Êphêsô, thánh Phaolô viết thư cho cộng đoàn Thêxalônica và Côrintô. Tuy nhiên, dân chúng trong thành nổi lên chống đối ngài qua những thợ kim hoàn địa phương, do doanh thu bị giảm sút v́ người ta không c̣n sùng kính thần Artêmi (Artêmysion, ngôi đền thờ dành để thờ cúng thần Artêmi ở Êphêsô, là một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại); bởi vậy, ngài phải trốn về phía Bắc. Sau khi đi qua vùng Macêđônia, một lần nữa ngài lại xuống Hy Lạp, có lẽ tại Côrintô, ở lại đó ba tháng và viết bức thư nổi tiếng gởi cho cộng đoàn Rôma.

Từ Côrintô, thánh Phaolô trở lại đường cũ: ngài đi ngang qua Macêđônia tới Troa bằng tàu thuỷ, rồi ghé qua các đảo Mytilêna, Chiô và Samô, sau đó, đến Milêtô. Ở đây, ngài đă nói với các kỳ mục của Giáo Hội Êphêsô một diễn từ quan trọng. Diễn từ đó vẽ lên chân dung của người mục tử đích thực trong Giáo Hội (xem Cv 20). Từ Milêtô, ngài đáp thuyền đi Tyrô, rồi đến Cêsarê Maritimê, kế đó, một lần nữa, ngài lại lên Giêrusalem. Tại đây, ngài bị bắt v́ hiểu lầm: nhiều người Do thái cho rằng thánh Phaolô đă đưa những người ngoại giáo vào phần Đền thờ chỉ dành cho người Do Thái, trong khi những người đó thực ra là những người Do thái gốc Hy Lạp. Ngài thoát khỏi án tử h́nh nhờ sự can thiệp của cơ đội Rôma canh giữ trong khuôn viên đền thờ (xem Cv 21, 27-36). Biến cố xảy ra khi Antôniô Fêlix làm tổng đốc miền Giuđê. Sau một thời gian bị giam giữ, thánh Phaolô kêu nài đến hoàng đế Cêsar (lúc đó là Nêrôn) với tư cách công dân Rôma, nên Porcius Festus, tổng đốc kế nhiệm, áp giải ngài đến Rôma.

Hành tŕnh tới Rôma ngang qua các đảo vùng Địa Trung Hải là Crêta và Malta, rồi các thành phố Syracusa, Reggiô Calabria và Pozzuôli (Cv 27,1 – 28,16). Các kitô hữu Rôma đón gặp ngài trên đường Appia. Trong số họ, có người đến từ quảng trường Appius (70 km phía nam Rôma), một số khác đến từ Trê Tavernê (cách Rôma 40 km). Ngài cũng gặp đại diện cộng đoàn Do thái ở Rôma và nói với họ, ngài bị xiêng xích v́ “niềm hi vọng của Israel” (Cv 28,20). Tuy nhiên, tường thuật của thánh Luca kết thúc khi đề cập đến hai năm thánh Phaolô ở Rôma dưới sự canh giữ nhẹ nhàng của lính gác. Thánh Luca không nói ǵ đến phán quyết của Cêsar (tức Nêrôn), cũng như cái chết của thánh Phaolô. Theo truyền thống, ngài được tha bổng, rồi sau đó đi truyền giáo ở Tây Ban Nha, cũng như đến Đông phương, đặc biệt là Crêta, Êphêsô và Nicôpôli vùng Êpirô. Theo giả thuyết, người ta nói ngài bị bắt lần nữa và lại bị tống ngục ở Rôma (từ trong ngục, ngài viết ba lá thư gọi là các thư mục vụ, đó là hai thư gởi cho Timôthê và một thư gởi cho Titô). Vụ kiện thứ hai có lẽ đă không thuận lợi cho ngài. Tuy nhiên, v́ nhiều lư do, một số đông các chuyên gia về thánh Phaolô kết thúc tiểu sử của vị tông đồ theo tường thuật của sách Công vụ tông đồ.

Nh́n lại các hành tŕnh truyền giáo của thánh Phaolô, chúng ta thấy ngài xả thân cho việc loan báo Tin Mừng khi đương đầu với nhiều thử thách khó khăn ngài kể trong thư thứ hai gởi cộng đoàn Côrintô (11, 21-28). Đàng khác, chính ngài đă viết: “Tôi làm tất cả những điều đó v́ Tin Mừng” (1Cr 9,23), đang khi “lo lắng cho tất cả các Giáo hội” với ḷng quảng đại tuyệt đối (2Cr 11,28). Chúng ta thấy nơi ngài một sự dấn thân chỉ có thể được giải thích do một tâm hồn say mê ánh sáng Tin Mừng, yêu mến Đức Kitô, một tâm hồn được nâng đỡ bởi một xác tín sâu xa: đem ánh sáng Đức Kitô đến với thế giới và loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người là điều hết sức cần thiết. Có thể nói: nơi thánh Phaolô, hiện rơ niềm đam mê đối với Tin Mừng, và một trực giác sâu xa về sự vĩ đại, sự đẹp đẽ và sự thiết yếu sâu xa của Tin Mừng.

Xin Chúa là Đấng đă ban cho thánh Phaolô được thấy ánh sáng của Người, được nghe Lời của Người, được Người đụng chạm đến nơi sâu thẳm tâm hồn, cũng làm cho chúng ta thấy ánh sáng của Người, để ḷng chúng ta cũng được xúc động nhờ Lời của Người và nhờ đó, chính chúng ta cũng có thể đem ánh sáng Tin Mừng và chân lư của Đức Kitô đến cho thế giới hôm nay, một thế giới đang khát khao những điều đó.

 

BÀI HỌC

(dành cho người học)

1. H. Thánh Phaolô sinh năm nào và tại đâu?

T. Theo Công vụ tông đồ 7,58 và Thư gởi ông Philêmon 9, thánh Phaolô sinh khoảng năm 8 tại Tarsô thủ phủ miền Cilicia (Cv 22,3).

2. H. Thánh Phaolô được giáo dục thế nào?

T. Thánh Phaolô được thừa hưởng nền giáo dục chính thống của người Do Thái. Ngài là người Pharisêu nên giữ luật rất nghiêm ngặt và nhiệt thành với Luật Môsê. Ngoài ra, ngài c̣n chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Hy Lạp và Rôma nữa.

3. H. Biến cố Đamas là biến cố ǵ?

T. V́ nhiệt thành với Luật Môsê, thánh Phaolô đă hăng say bách hại các kitô hữu. Trên đường đi Đamas để bắt bớ họ, ngài được ơn trở lại và sau đó, trở thành một tông đồ miệt mài rao giảng Tin Mừng.

4. H. Thánh Phaolô đi truyền giáo bao nhiêu lần?

T. Theo Công vụ tông đồ, thánh Phaolô đă thực hiện 4 hành tŕnh truyền giáo. Lần thứ nhất ngài tháp tùng thánh Barnabê. Lần thứ hai và thứ ba, ngài là người dẫn đầu. Riêng lần thứ tư, ngài thực hiện cuộc hành tŕnh tới Rôma như một tù nhân.

5. H. Công đồng Giêrusalem diễn ra thế nào?

T. Trong hành tŕnh truyền giáo lần thứ nhất, một vấn đề nảy sinh: các kitô hữu gốc dân ngoại có phải giữ Luật Môsê không? Các tông đồ đă hội họp tại Giêrusalem và quyết định người ngoại giáo trở lại không phải giữ Luật Môsê.

6. H. Trong hành tŕnh thứ hai, có biến cố ǵ đặc biệt?

T. Ngài nằm mơ thấy một người xứ Macêđônia ở Âu Châu xin ngài đến cứu giúp. Ngài đă lên đường tới đó, nghĩa là sang Âu Châu, để truyền giáo lần đầu tiên. Ngài cũng đến Athena, thủ đô của Hy Lạp, để rao giảng Đức Kitô cho dân thành này.

7. H. Những biến cố đặc biệt nào xảy ra trong hành tŕnh thứ ba?

T. Trước hết, trên đường đi Giêrusalem, thánh Phaolô ghé qua Milêtô, và gặp các kỳ mục của cộng đoàn Êphêsô. Ngài đă nói với họ một bài rất cảm động về người mục tử đích thực phải là người thế nào (Cv 20, 17-38)). Ai nấy đều biết ngài sẽ gặp nguy hiểm ở Giêrusalem, nhưng ngài vẫn quyết định đến đó. Cuối cùng, ngài bị chính đồng bào Do Thái bắt và muốn lên án tử h́nh. Nhưng ngài nại đến quyền công dân Rôma để được chính hoàng đế Cêsar xét xử, nên bị áp giải về Rôma.

8. H. Chúng ta học được ǵ qua cuộc đời và các hành tŕnh truyền giáo của thánh Phaolô?

T. Nơi thánh Phaolô, chúng ta học được những phẩm chất cần thiết của một tông đồ: một đức tin sâu xa vào Đức Kitô, một tâm hồn say mê Tin Mừng và sự dấn thân quên ḿnh để rao giảng Đức Kitô. Đồng thời, ngài c̣n là tấm gương sáng chói về người mục tử tận tuỵ, đó là luôn lo lắng, săn sóc các cộng đoàn tín hữu với hết cả tâm hồn.

 

BÀI T̀M HIỂU THÊM

1. ĐỌC KỸ CÁC ĐOẠN TÂN ƯỚC ĐƯỢC GHI CHÚ TRONG PHẦN QUẢNG DIỄN.

2. CÔNG ĐỒNG GIÊRUSALEM LÀ G̀ VÀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THÁNH PHAOLÔ THẾ NÀO?

Công đồng Giêrusalem là hội nghị của một số môn đệ hàng đầu của Chúa Giêsu. Hội nghị được thuật lại trong Công vụ tông đồ 15, 2-21. Sách Công vụ nói rằng Phaolô cũng tham dự hội nghị v́ vấn đề tranh luận then chốt là việc truyền giáo cho Dân Ngoại (không phải là người Do Thái). Thánh Phaolô có đề cấp đến một hội nghị trong thư Galát 2, 1-10. Đây có lẽ cũng là hội nghị sách Công vụ nói đến. Tuy nhiên, điều đáng nói là hai bản tường thuật này có những chi tiết quan trọng rất khác nhau.

Trong sách Công vụ, có hai vấn đề tranh luận: việc cắt b́ và luật cấm ăn thịt bị coi là ô uế v́ được dùng trong tế tự ngoại giáo. Việc cắt b́ là một vấn đề nhạy cảm đối với các môn đệ Chúa Giêsu. Đối với người Do Thái, đó là một việc quan trọng, tối cần thiết; c̣n đối với dân ngoại, đó là một việc man rợ. Vấn đề đang âm ỉ lập tức bùng lên mănh liệt khi dân ngoại tin vào Đức Kitô và gia nhập cộng đoàn các môn đệ. Sau khi nghe những lời chứng của Phaolô và Barnaba trong hội nghị, hai vị lănh đạo hàng đầu của cộng đoàn Giêrusalem là Phêrô và Giacôbê đă đồng ư giảm bớt một số trói buộc mà một số người gốc Do Thái đang cố áp đặt lên những người ngoại giáo trở lại. Dân ngoại trở lại không buộc phải cắt b́. Họ chỉ được yêu cầu tiết chế không dâm ô và không ăn loại thịt đă được cúng cho tà thần.

Câu truyện thánh Phaolô kể lại th́ khác. Theo cái nh́n của ngài, ngài đi Giêrusalem để gặp các tông đồ lănh đạo then chốt, đó là Phêrô, Giacôbê và Gioan. Bạn đồng hành của ngài là Titô, người Hy lạp, không bị buộc phải cắt b́, nhưng một số người bất đồng ư kiến đă khuấy động một cuộc tranh luận hầu duy tŕ việc cắt b́. Thánh Phaolô nói ba “trụ cột” của Hội Thánh đă chúc lành cho ngài để ngài tiếp tục rao giảngï cho lương dân, những người không cắt b́; cũng như ba vị tiếp tục rao giảngï cho những người được cắt b́. Tuy nhiên, sau đó, có lần, Phaolô nói rằng Phêrô đă không giữ điều đă đồng ư trước đây. Tại Antiôkia, Phêrô bị sức ép của phe đ̣i giữ luật cắt b́ nên đă tránh không ngồi đồng bàn với các kitô hữu gốc dân ngoại (Gl 2, 11-14).

Ai có cái nh́n chính xác hơn về những ǵ đă xảy ra ở hội nghị này? Đó là một hội nghị công khai hay riêng tư? Không thể dễ dàng trả lời cho câu hỏi lịch sử đó. Điều chúng ta có thể nói chắc chắn đó là Công đồng Giêrusalem là một mẫu gương cho các tín hữu thời kỳ đầu trong việc giải quyết những bất đồng hoặc khủng hoảng bằng h́nh thức tham khảo ư kiến rộng răi v́ ngay cả Phaolô là một tông đồ muộn màng cũng được tham gia vào các quyết định như vậy.

 

3. CÁC HÀNH TR̀NH CỦA THÁNH PHAOLÔ DIỄN RA THẾ NÀO? NGÀI CÓ PHẢI LÀ NHÀ TRUYỀN GIÁO DUY NHẤT ĐI NHIỀU NHƯ THẾ KHÔNG?

Theo sách Công vụ tông đồ, thánh Phaolô đă thực hiện ba hành tŕnh truyền giáo và hành tŕnh cuối cùng tới Rôma để đối mặt với các cáo buộc chống lại ngài (có thể tham khảo các bản đồ ở cuối sách Thánh Kinh loại lớn của nhóm Phụng vụ giờ kinh).

Theo những ǵ đă tŕnh bày trong phần quảng diễn, chúng ta thấy thánh Phaolô đi lại rất nhiều. Một học giả ước tính chiều dài các hành tŕnh truyền giáo của ngài dài hơn 10.000 dặm. Chính thánh Phaolô cũng nhắc tới các hành tŕnh của ngài trong thư 2 Côrintô. Ngài nói ḿnh đă làm nhiều hành tŕnh với những nguy hiểm đủ loại và những vụ đắm tàu (2Cr 11,25-26). Ngài dùng cả đường bộ lẫn đường biển. Dĩ nhiên, đường biển chỉ có thể đi được vào một thời gian nào đó trong năm khi thời tiết không phải là mối đe doạ nghiêm trọng (xem Cv 28,11 có nhắc đến một con tàu đă phải “trú đông” ở một ḥn đảo). Hệ thống đường xá của đế quốc Rôma tạo ra một mạng lưới giao thông thuận lợi. Một lộ tŕnh chính thánh Phaolô thường di chuyển là con đường Egnatia chạy từ miền Tây sang miền Đông. Dọc theo lộ tŕnh này có thành phố Thêxalônica và Philipphê những nơi ngài đă thăm viếng.

Lược đồ ba cuộc hành tŕnh này có vẻ hợp lư. Tuy nhiên, chúng ta phải ghi nhận hai hạn chế của nó: (1) Từ nội dung các bức thư của thánh Phaolô, chúng ta không thể tái tạo một lược đồ như vậy; (2) nhiều văn bản cổ dùng chủ đề hành tŕnh để kể lại câu chuyện về các vị anh hùng của họ. Công vụ thuật lại nhiều chi tiết  diễn tả hoàn cảnh tại các cộng đoàn của thánh Phaolô, như  Côrintô, Philípphê, Êphêsô. Nhưng chúng ta cũng không thể biết chắc có phải thánh Phaolô chỉ thực hiện 3 hành tŕnh truyền giáo lớn. Có thể Ngài cũng đă thực hiện các hành tŕnh khác nữa v́ c̣n một quăng thời gian trong cuộc đời ngài không được tính đến, đặt biệt là thời gian ở Arabia (Gl 1,17).

Một câu hỏi khác được đặt ra là làm sao có thể xác định được thời gian 14 năm giữa các cuộc thăm viếng của ngài đến Giêrusalem mà ngài nhắc tới vào buổi đầu sứ vụ ngài thực hiện (Gl 2,1). Đây là 14 năm kể từ lúc ngài trở lại hay là từ thời gian cuộc hành tŕnh đầu tiên của ngài tới Giêrusalem? Thư gửi tín hữu Galát chứa đựng bản tường thuật dài nhất về các chuyến đi của ngài (Ga 1,17-2,1). Bức thư này cho thấy rơ là sau cuộc trở lại, ngài đến Arabia (có lẽ là Nabatea), sau đó trở lại Đamas. Rồi ba năm sau, ngài tới Giêrusalem lần đầu tiên và được nối tiếp bằng các cuộc hành tŕnh đến Syria và đến tỉnh nhà của Ngài ở Cilicia. Sau đó thánh Phaolô diễn tả việc ngài đi đến Giêrusalem tham dự Công Đồng Giêrusalem 14 năm sau đó. Một vài chi tiết trùng với lược đồ trong Công Vụ Tông Đồ ở trên, một số chi tiết th́ mập mờ khó hiểu hơn. Điều chắc chắn là thánh Phaolô tự coi ḿnh là một nhà truyền giáo lữ hành. Ơn gọi cao cả nhất của Ngài là tông đồ cho dân ngoại. Một ơn gọi đ̣i hỏi phải thực hiện một hành tŕnh rộng khắp Đế quốc Rôma. Thật vậy, chương tŕnh của ngài có vẻ là một cuộc mở rộng về phía Tây đến nước Tây Ban Nha và tới các vùng xa xôi của Đế Quốc (Rm 15,24-28).

Thánh Phaolô không phải là một vị truyền giáo duy nhất đi nhiều như vậy, mặc dù sở thích của ngài là đi tới các cánh đồng truyền giáo mới chưa được nghe loan báo Tin Mừng (Rm 15,20-21). Thỉnh thoảng ngài cũng đi thăm các nơi mà Tin Mừng đă được rao giảng từ trước. Đối với những trường hợp này, Ngài thú nhận: “...Nhưng lúc ấy Hội Thánh Đức Giêsu tại miền Giuđê không biết mặt tôi, họ chỉ nghe nói rằng, ‘người trước đây bắt bớ chúng ta, bây giờ lại rao giảng đức tin mà xưa kia ông đă muốn tiêu diệt’, và v́ tôi, họ tôn vinh Thiên Chúa” (Gl 1,21-24). Lịch sử không ghi lại tên tuổi của những nhà truyền giáo đầu tiên này. Một vài vị được biết đến là nhờ các truyền thống cổ xưa mà không phải luôn luôn có thể kiểm chứng được; một số vị khác th́ hoàn toàn không được biết đến. Lấy ví dụ, truyền thống nói Phêrô thi hành sứ vụ tại Rôma, nhưng thư thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma không nhắc tới truyền thống này. Phaolô cũng có những người bạn đồng hành và đôi khi họ tự ư đi truyền giáo theo cách của họ.

Tóm lại, Hội Thánh sơ khai lớn mạnh là nhờ các nhà truyền giáo lữ hành như thánh Phaolô. Các ngài sẵn sàng đương đầu với những nguy hiểm lớn lao mà bất cứ cuộc hành tŕnh nào cũng có thể đưa tới (2 Cr 11,26). Và như thánh Phaolô đă kể lại, ngài đă trải qua một số các nguy hiểm như thế: đắm tàu, cướp cạn và ngay cả cướp biển, phải làm việc vất vả, bị đói khát, không nơi trú ẩn, v.v... (2 Cr 11,25-28). Vào thời ngài, việc đi lại không phải dễ dàng. Hầu hết là đi bộ. Các thương gia th́ dùng loài vật hoặc xe chở đồ đạc, nhưng chỉ có quân đội hoặc chính quyền mới có ngựa để chuyên chở. Di chuyển bằng tàu thuỷ không phải là các tàu du lịch xa xỉ ngày nay. Thông thường, những người đi lại đặt chỗ trước trên các thương thuyền đi theo hướng họ sẽ đi (Cv 21,2-3; 27,2). Bất chấp trở ngại, các nhà truyền giáo như thánh Phaolô đă loan báo sứ điệp Tin Mừng một cách hiệu quả phi thường.

 

Lm. Micae Lê Xuân Tân