GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT

 

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đă loan báo dành một năm để kính nhớ Thánh Phaolô Tông Đồ, bắt đầu từ ngày 29 tháng 06 năm 2008 đến hết ngày 29 tháng 06 năm 2009, nhân dịp kỷ niệm 2000 sinh nhật Thánh Phaolô Tông Đồ. Như vậy Năm Thánh Phaolô đă được mở ra cho toàn thể Giáo Hội. Khắp nơi tuỳ theo từng hoàn cảnh và sáng kiến, mỗi Giáo Hội địa phương đă và đang đề ra những h́nh thức cử hành khác nhau cho thời gian trọng đại này. Riêng tại Việt Nam, các vị chủ chăn đă đưa ra một chương tŕnh có tính cách tổng quát qua thư mục vụ 2008 về Môi trường Giáo Dục Gia Đ́nh Công Giáo. Trong lá thư này, các ngài mời gọi toàn thể cộng đồng dân Chúa học hỏi, suy tư và thực hiện việc giáo dục gia đ́nh theo giáo huấn của Thánh Phaolô.

Hoà chung với nhịp sống của toàn thể Giáo Hội, Giáo phận Long Xuyên đă đưa ra một chương tŕnh học hỏi về Thánh Phaolô trong suốt năm 2009. Chương tŕnh này vừa giúp chúng ta sống Năm Thánh của Giáo Hội toàn cầu, vừa chuẩn bị tâm hồn chúng ta cử hành Năm Thánh của Giáo phận, năm 2010, kỷ niệm 50 năm thành lập Giáo phận. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu một loạt 12 bài giáo lư về Thánh Phaolô, trong đó, phần nội dung chủ yếu được thu thập từ Kinh thánh, đặc biệt là Công vụ tông đồ và các thư thánh Phaolô, các tài liệu chính thức của Giáo Hội, nhất là từ những bài giáo lư hằng tuần của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI về Thánh Phaolô. Mười hai bài bài giáo lư này hợp thành một tập tài liệu, được phổ biến mỗi tháng, để t́m hiểu và học hỏi, nhưng quy vào ba cột trụ chính: THIÊN CHÚA- GIÁO HỘI- CON NGƯỜI. Tập trung vào ba điểm trọng yếu này là nhằm giúp chúng ta nối kết lại những tài liệu đă được công bố về Thánh Phaolô, vốn rất đa dạng trong nhiều khía cạnh; đồng thời giúp chúng ta có hướng nh́n căn bản về những chiều kích nền tảng của ơn cứu chuộc, được thể hiện qua cuộc đời và giáo huấn của Thánh Phaolô, vị Tông đồ kiệt xuất của Giáo Hội.

12 Bài học được sắp xếp như sau: Bài 1: Ư Nghĩa và Mục Đích của Năm Thánh Phaolô; Bài 2: Chân dung nhà truyền giáo Phaolô. Hai bài trong phần mở đầu này giúp chúng ta hiểu rơ ư nghĩa và mục đích cử hành Năm Thánh, đồng thời hiểu rơ con người và đời sống chứng nhân của Thánh Phaolô. Khi nh́n vào đời sống thánh nhân, chúng ta nhận thấy nhân đức nổi bật của ngài là đức mến, cốt lơi của luân lư Kitô giáo, cũng là động lực của tất cả hoạt động của ngài, được ngài coi là “cao trọng hơn cả” và “tồn tại măi” (x. 1 Cr 13), được tŕnh bày trong các bài: Bài 3: Phaolô người say mê Chúa Kitô; Bài 6: Phaolô người yêu mến Giáo Hội; Bài 9: Phaolô yêu mến con người. Nội dung chính yếu của toàn bộ giáo huấn của Thánh Phaolô được tŕnh bày trong các thư của ngài có thể tóm tắt: Chúa Kitô chịu chết và Phục Sinh. Giáo huấn này cũng là mối quan tâm chính yếu của các Tông Đồ, được Thánh Phaolô tiếp nối và làm nên sứ mệnh của Giáo Hội qua các thời đại. V́ thế, tựa đề của Bài 4 là: Chúa Kitô chịu chết và Phục Sinh, đối tượng rao giảng của Phaolô. Công việc loan báo Tin Mừng nhằm đem người ta đến với Chúa; không ai có cảm nghiệm sâu sắc hơn Thánh Phaolô trong hành tŕnh nội tâm này, v́ thế Bài 5 sẽ tŕnh bày chủ đề: Phaolô, chứng nhân của một cuộc trở lại. Tiếp theo, chúng ta sẽ dành hai bài để tŕnh bày nỗ lực xây dựng Giáo Hội của Thánh Phaolô, những nỗ lực này vượt qua mọi khó khăn và thử  thách, Bài 7: Phaolô người xây dựng Giáo Hội nền tảng; Bài 8: Phaolô người xây dựng Giáo Hội hiệp thông. Dù có lúc Thánh Phaolô nhận ḿnh là “điên rồ” v́ Chúa Kitô (x. 2 Cr 11, 1) th́ khi t́m hiểu cuộc đời ngài, chúng ta phải chân nhận đó là một con người hoàn hảo, một nhân cách vững vàng. Nhân cách ấy rất đáng được chúng ta noi theo; và thực sự nó đă lôi cuốn nhiều lớp người sống theo gương ngài làm chứng cho Tin Mừng Chúa Kitô. Những yếu tố tạo nên nhân cách lạ lùng ấy được tŕnh bày trong Bài 10: Phaolô, một con người hoàn hảo. Giáo huấn của ngài không chỉ thuộc về khía cạnh thiêng liêng, nó c̣n bao hàm những giá trị nhân bản toàn vẹn mà khi hệ thống hoá lại sẽ thấy hiện lên một nền nhân học mới, vượt qua ranh giới xă hội La Hi thời đó để tồn tại măi măi. Xin tŕnh bày chủ đề này trong Bài 11: Phaolô xây dựng một nền nhân học mới. Cuối cùng, Bài 12 tóm kết những điều đă tŕnh bày và mời gọi hăng hái làm chứng cho Chúa Kitô trong môi trường hiện tại.

Nh́n một cách tổng quát chúng ta có một bố cục như sau:

PHẦN MỞ ĐẦU:

Bài 1: Ư Nghĩa và Mục Đích của Năm Thánh Phaolô

Bài 2: Chân dung nhà truyền giáo Phaolô

PHẦN I: Phaolô đối với Chúa

Bài 3: Phaolô, người say mê Chúa Kitô

Bài 4: Chúa Kitô chịu chết và Phục Sinh, đối tượng rao giảng của Phaolô

Bài 5: Phaolô, chứng nhân của một cuộc trở lại

PHẦN II: Phaolô đối với Giáo Hội

Bài 6: Phaolô người yêu mến Giáo Hội

Bài 7: Phaolô người xây dựng Giáo Hội nền tảng

Bài 8: Phaolô người xây dựng Giáo Hội hiệp thông

PHẦN III: Phaolô đối với con người

Bài 9: Phaolô yêu mến con người

Bài 10: Phaolô, một con người hoàn hảo (lư trí, t́nh cảm, cách đối xử…)

Bài 11: Phaolô xây dựng một nền nhân học mới

PHẦN KẾT:

Bài 12: Tổng kết. Nối gót Phaolô

Như vậy, bố cục này cũng tập trung vào ba chiều kích: MẦU NHIỆM- HIỆP THÔNG- SỨ VỤ mà Giáo Hội Việt Nam mời gọi chúng ta t́m hiểu, học hỏi và suy tư trong khi chúng ta hướng về Năm Thánh 2010.

 

Bài 1. Ư NGHĨA VÀ MỤC ĐÍCH CỦA NĂM THÁNH PHAOLÔ

 

BÀI QUẢNG DIỄN

(dành cho người dạy)

Ngày 28-6-2007, trong buổi hát Kinh Chiều I, tại Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành Rôma, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đă loan báo dành một năm để kính nhớ Thánh Phaolô Tông đồ, bắt đầu từ ngày 29-6-2008 đến hết ngày 29-6-2009, nhân dịp kỷ niệm 2.000 năm sinh nhật Thánh Phaolô Tông đồ.

Cửa vào Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành sẽ được mở vào chiều ngày 28-6-2008. Đức Thánh Cha sẽ bước qua cửa này và khai mạc Năm Thánh Phaolô Tông đồ, gọi là “cửa Thánh Phaolô”. Năm này không phải là Năm Thánh như thường lệ cứ 25 năm cử hành một lần. Và cửa Thánh Phaolô cũng không phải là cửa thánh như được nói tới trong các Năm Thánh.

1. Năm thánh Phaolô là ǵ?

Vậy Năm Thánh Phaolô là ǵ? Đây là một năm đặc biệt dành kính Thánh Phaolô Tông đồ, để kỷ niệm ngày sinh của Thánh nhân cách đây 2.000 năm. Cho dù chúng ta không biết rơ ngày sinh của ngài là ngày nào, nhưng các nhà chuyên môn đă dự đoán là Thánh nhân sinh ra vào khoảng giữa năm 7 và năm 10 sau Chúa Kitô. Như trên đă nói, đây không phải là Năm Thánh mà truyền thống vẫn nói tới, cứ 25 năm Đức Thánh Cha ban bố mở Năm Thánh một lần, hoặc là những dịp đặc biệt khác. Đức Thánh Cha cũng không mở hay đóng cửa thánh trong Năm Thánh Phaolô.

V́ những lư do trên, Đại Vương cung Thánh đường Thánh Phaolô ngoại thành Rôma (Basilica San Paolo fuori delle Mura, Roma) sẽ là điểm quy tụ chính yếu trong Năm Thánh Phaolô này.

Ngôi thánh đường này đă được trùng tu, như: tu sửa lại toà cho Đức Thánh Cha, tu sửa khung cảnh chung quanh bàn thờ chính (baldaquin) của nghệ sĩ Arnolfo di Cambio, sơn phết lại tiền đ́nh tứ quan, là lối để khách hành hương đi vào nhà thờ.

Về các di tích của Thánh Phaolô tại Vương cung Thánh đường này, khách hành hương đă có thể chiêm ngắm một phía của mộ Thánh Phaolô. Phần mộ này được xây vào giữa thế kỷ thứ IV và thứ V tại vùng Ostia. V́ vùng Ostia hay có lụt lội do sông Tevere, nên người ta phải xây tường để chắn nước và bảo vệ ngôi mộ này. Hiện tại, cần nhiều thời gian để có thể trưng bày tất cả cỗ ḥm chôn Thánh nhân cho công chúng kính viếng và chiêm ngắm. Từ khi cho công chúng thấy một phần của ngôi mộ này, con số của khách hành hương đă tăng lên nhiều.

Nhưng các nơi khác trong Giáo Hội cũng sống Năm Thánh Phaolô này, nhất là những nơi mang tên Thánh Phaolô, v́ Năm Thánh Phaolô có tầm mức phổ quát cho toàn thể Giáo Hội.

2. Mục đích Năm Thánh Phaolô

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đă nói rơ 2 mục đích của Năm Thánh Phaolô.

Mục đích thứ nhất là để tín hữu khắp nơi biết về Thánh Tông đồ Phaolô. Đây là một vị truyền giáo trứ danh và vĩ đại. Nhưng rất tiếc là nhiều người Công giáo biết rất ít về Thánh nhân, cũng như họ không biết về sức mạnh của lời rao giảng và việc làm chứng của ngài về Chúa Kitô. Người ta có thể nói tới mấy điểm chính về giáo huấn của Thánh Phaolô trong các thư ngài viết như sau:

- Một sự gắn bó trọn vẹn, sống chết với Chúa Kitô.

- Một t́nh hiệp thông sâu đậm trong các cộng đoàn tiên khởi.

- Ư hướng đến với muôn dân (ad gentes) trong hoạt động tông đồ của Thánh Phaolô.

Ngoài ra, người ta c̣n có thể nói tới:

- Niềm tin sâu xa vào biến cố Phục sinh của Chúa Kitô.

- Đức ái đặc biệt trong giáo huấn của Thánh Phaolô.

Mục đích thứ hai nhắm vào công việc đại kết. Từ đây, chúng ta nhận ra ư nghĩa việc thiết lập một nhà nguyện đại kết trong Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành.

Tóm lại, ư nghĩa và mục tiêu của Năm Thánh Phaolô có thể được tóm gọn như sau: đây là một dịp để nhận ra việc làm chứng mạnh mẽ của Thánh Phaolô, và từ đó, tín hữu lấy đà dấn thân hăng say hơn trong đời sống đức tin và trong các hoạt động đại kết. Đây là một thời điểm quan trọng để tái khám phám một bộ mặt phi thường của Kitô giáo thời kỳ đầu. Đây là công việc trở về nguồn của Kitô giáo.

3. Lịch các buổi cử hành Năm Thánh Phaolô

Tại Đền Thờ Thánh Phaolô ngoại thành có những buổi cử hành sau đây:

+ Các buổi cử hành phụng vụ: mỗi tháng có một buổi cử hành phụng vụ, do một vị Hồng y chủ sự.

+ Cùng với buổi cử hành phụng vụ này, c̣n có đề nghị một đề tài để suy tư.

+ Các cuộc hành hương tới Đền thờ này.

+ Các đan sĩ của Đan viện Thánh Biển Đức ở đây sẽ phụ trách việc đón tiếp khách hành hương và cử hành việc cầu nguyện với họ. Các đan sĩ sẽ ngồi toà giải tội cho các khách hành hương thuộc nhiều thứ tiếng khác nhau.

+ Đan viện Thánh Biển Đức ở đây sẽ mời một cộng đồng Kitô giáo không phải là Công giáo đến cùng cầu nguyện chung.

+ Tín hữu cũng được lănh Ơn Toàn Xá dành cho các Vương cung Thánh đường lớn ở Rôma. V́ thế, không cần xin thêm các dịp khác nữa trong năm này.

Luật định về việc lănh Ơn Toàn Xá khi viếng các Vương Cung Thánh đường  lớn tại Rôma được quy định như sau:

“Ban Ơn toàn xá cho tín hữu khi họ sốt sắng đến viếng một trong bốn Đại Vương cung Thánh đường tại Rôma, và đọc Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính, trong các dịp:

- Ngày lễ tước hiệu.

- Bất cứ ngày lễ buộc nào.

- Một ngày trong năm do chính tín hữu chọn.

(Enchiridion Indulgentiarum. Normae et condiciones. Libreria Editrice Vaticana, 1986, khoản 11).

4. Các buổi gặp gỡ trong Năm Thánh Phaolô

Tại Đền Thánh Phaolô cũng có tổ chức các cuộc gặp gỡ cho từng giới như sau:

* Năm 2008:

Tháng 7: các tu sĩ

Tháng 8: các nhà truyền giáo

Tháng 9: các họ đạo

Tháng 10: các giám mục (nhân dịp Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới)

Tháng 11: các người bị tù ngục

Tháng 12: giới sinh viên

* Năm 2009:   

Tháng 1: các Kitô hữu

Tháng 2: các bệnh nhân

Tháng 3: các phong trào mới

Tháng 4: giới trẻ

Tháng 5: các gia đ́nh

Tháng 6: các linh mục và phó tế

5. Những đia điểm liên hệ tới Thánh Phaolô

Có 16 nơi tại Rôma liên hệ tới Thánh Phaolô:

(1) Thánh Phaolô Alla Regola

(2) Ngục Marmertino

(3) Hang toại đạo San Sebastiano

(4) Tre Fontane

(5) Nơi hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô ôm hôn từ giă nhau lần cuối cùng và ban phép lành cho nhau trước khi chịu tử đạo.

* Các nơi khác chưa được công bố.

6. Khách hành hương đến Rôma

Hiện tại, mỗi ngày có khoảng 4.000 khách hành hương đến Rôma. Nhưng trong Năm Kính Thánh Phaolô, con số này sẽ tăng lên hơn nhiều.

Việc đón tiếp khách hành hương được tổ chức như sau:

a) Các đan sĩ Đan viện Thánh Biển Đức sẽ giúp các buổi cầu nguyện cho các nhóm hành hương.

b) Trong Nhà thờ sẽ có 4 nhà nguyện bên cạnh để cử hành các Thánh lễ  cho các nhóm hành hương, với con số khoảng 50 người.

Các nhóm đông khoảng 500 người, có thể cử hành tại bàn thờ phía sau bàn thờ chính.

Các nhóm đông hơn phải cử hành ở bàn thờ chính và ở giữa ḷng nhà thờ. Sẽ có bàn giấy để giúp đặt chỗ trước cho các nhóm.

c) Khi khách hành hương đi vào nhà thờ, họ đi từ tiền đ́nh tứ quan, thắp một cây nến. Sau đó, họ đi vào cửa gọi là cửa Thánh Phaolô, và thực hiện một việc thống hối và hiệp thông trong đền thờ này.

7. Nhà nguyện đại kết.

Một điểm mới tại Đại Vương cung Thánh đường Thánh Phaolô ngoại thành, đó là nhà nguyện đại kết. Như chúng ta đă đọc trên đây, một trong hai mục tiêu của Năm Kính Thánh Phaolô là cổ vũ phong trào đại kết. Từ đó có việc thiết lập một nhà nguyện đại kết. Nhà nguyện này nằm tại nơi mà trước đây là giếng rửa tội của đền thờ. Đây là một phần của ngôi nhà nguyện cũ bị phá huỷ và được tu sửa vào các năm 1928-1930, do kiến trúc sư Arnaldo Foschini.

Nhà nguyện này mang những đặc tính sau đây:

• Là một nhà nguyện dành cho các Cộng đồng Kitô giáo không phải là Công giáo có thể đến cầu nguyện.

• Bàn thờ của nhà nguyện này là chính bàn thờ trước đây đặt trước mộ Thánh Phaolô ở dưới bàn thờ chính.

• Bàn thờ này chứa hài cốt của Timôthêô di Antiochia, tử đạo vào năm 311.

8. Các sáng kiến có tính cách văn hoá, nghệ thuật

Ngoài những buổi cử hành phụng vụ và cầu nguyện, Năm Thánh Phaolô c̣n có những sáng kiến văn hoá và nghệ thuật nữa.

Sẽ có những buổi diễn thuyết, gặp gỡ, học hỏi.

Vào tháng 10-2008, sẽ có một cuộc gặp gỡ đại kết quan trọng. Sẽ có những buổi hoà nhạc, nhưng được tổ chức ở ngoài nhà thờ.

Người ta cũng đang soạn thảo một cuốn chỉ nam (vademecum) cho khách hành hương.

Sau cùng, Uỷ ban Năm Thánh Phaolô cũng lo xuất bản Sách Công vụ Tông đồ và các thư Thánh Phaolô.

9. Dơi theo bước chân truyền giáo của Thánh Phaolô

Trong Năm Thánh Phaolô, những nơi khác gắn liền với cuộc đời của Thánh Phaolô cũng có những sáng kiến tương tự.

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, các Giám mục Công giáo sẽ viết thư gửi cho các Kitô hữu thuộc các Lễ nghi khác nhau, và sẽ tổ chức một cuộc hành hương đi Rôma. Tại Tarsô, quê hương của Thánh Phaolô, không có một nhà thờ, nhà nguyện vĩnh viễn để cử hành Thánh Lễ và các buổi cử hành phụng vụ khác. Khi muốn làm lễ tại một nhà nguyện mà bây giờ biến thành bảo tàng viện, người ta phải xin phép chính quyền địa phương và phải trả lệ phí. V́ thế, các Giám mục Công giáo đă cùng với các vị chức sắc của các Giáo hội thuộc các Lễ nghi khác và các Cộng đồng Kitô giáo ngoài Công giáo và Chính thống đă xin với chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ để dùng Nhà nguyện này cách tự do, hay được xây cất một nhà nguyện tại đây. Hi vọng trong Năm Kính Thánh Phaolô, sự việc sẽ được giải quyết.

Tại Siria, Công giáo Hy Lạp Melkiti sẽ đưa ra những sáng kiến cử hành, học hỏi và hành hương trong Năm Thánh Phaolô, v́ tại đây có Đamascô, nơi Thánh Phaolô trở lại, chịu Phép Rửa Tội.

Tại Giêrusalem, Đức Sứ thần Toà Thánh tại Israel đă đề nghị biến Giêrusalem thành nơi cử hành các lễ nghi tưởng niệm trong Năm Thánh Phaolô.

Tại Malta, nơi hang Rabat mà Thánh Phaolô đă cư ngụ 3 tháng sau khi bị đắm tàu, các buổi cử hành phụng vụ, cũng như các cuộc hành hương trong Năm Thánh Phaolô sẽ được thực hiện tại đây.

Chương tŕnh và lịch sử cử hành tại các nơi này sẽ được các nơi này công bố sau.     

(Theo tài liệu của Lm. Phanxicô Borgia Trần Văn Khả)

 

BÀI HỌC

(dành cho người học)

1. Hỏi: Năm Thánh Phaolô là ǵ?

  Thưa: Đó là một năm đặc biệt dành để kính Thánh Phaolô Tông đồ, nhân kỷ niệm 2.000 năm ngày sinh của ngài.

2. Hỏi: Năm Thánh Phaolô bắt đầu và kết thúc vào những ngày nào?

  Thưa: Năm Thánh Phaolô Tông đồ bắt đầu từ ngày 29-6-2008 và kết thúc vào  ngày 29-6-2009. Như vậy, chúng ta đang ở trong Năm Thánh Phaolô.

3. Hỏi: Nơi nào dành để quy tụ các tín hữu hành hương một cách chính thức?

   Thưa: Đại Đại Vương cung Thánh đường Thánh Phaolô ngoại thành Rôma, nơi có phần mộ của ngài được xây vào giữa thế kỷ thứ IV và thứ V sẽ là điểm quy tụ chính trong Năm Thánh Phaolô. Tuy nhiên, các nơi khác, nhất là những nơi mang tên Thánh Phaolô cũng có thể là những địa điểm quy tụ để cử hành, v́ Năm Thánh Phaolô có tầm mức phổ quát cho toàn thể Giáo Hội.

4. Hỏi: Năm Thánh Phaolô có những mục đích nào?

  Thưa: Năm Thánh Phaolô có hai mục đích chính:

Một là để người Kitô hữu trên toàn thế giới hiểu rơ về cuộc đời của thánh nhân, một vị truyền giáo nổi tiếng của Giáo Hội Công Giáo.

Hai là hướng đến công cuộc đại kết, nghĩa là liên kết tất cả những ai tin vào Chúa Kitô, giúp họ xoá bỏ những bất hoà, chia rẽ đă gây ra trong lịch sử, để tất cả hợp nhất với nhau như Chúa Kitô mong muốn.

5. Hỏi: Chúng ta có thể t́m hiểu những ǵ nơi con người và giáo huấn của Thánh Phaolô?

  Thưa: Người ta có thể học hỏi những điểm chính sau đây nơi Thánh Phaolô:

- Một sự gắn bó trọn vẹn, sống chết với Chúa Kitô.

- Một t́nh hiệp thông sâu đậm trong các cộng đoàn tiên khởi.

- Ư hướng đến với muôn dân trong các hoạt động tông đồ của ngài.

       Ngoài ra, người ta c̣n có thể nói tới:

- Niềm tin sâu xa của ngài vào biến cố Phục sinh của Chúa Kitô.

- Đức ái đặc biệt trong giáo huấn của ngài.

6. Hỏi: Năm Thánh Phaolô đem lại cho chúng ta ư nghĩa nào?

  Thưa: Cử hành Năm Thánh Phaolô là một dịp để chúng ta nhận ra sứ vụ làm chứng mạnh mẽ của Thánh Phaolô, để từ đó, các tín hữu nỗ lực dấn thân hăng say hơn trong đời sống đức tin cũng như trong các hoạt động đại kết. Đây là việc trở về nguồn của Kitô giáo.

7. Hỏi: Có những hoạt động nào dành để cử hành Năm Thánh Phaolô?

  Thưa: Tuỳ theo hoàn cảnh và sáng kiến của mỗi Giáo Hội địa phương, người ta thường tổ chức các buổi cử hành Phụng vụ, cầu nguyện, hành hương. Ngoài ra c̣n có những sáng kiến mang tính văn hoá như hoà nhạc, chiếu phim, kể chuyện Thánh Phaolô. Riêng Uỷ Ban Năm Thánh sẽ xuất bản Sách Tông Đồ Công Vụ và các Thư của Thánh Phaolô.

 

BÀI T̀M HIỂU THÊM

(Suy niệm, cầu nguyện, học hỏi sâu xa hơn với Kinh Thánh)

Một trong hai mục đích của Năm Thánh Phaolô là hướng về công cuộc đại kết. Đề ra mục đích này, Đức Thánh Cha muốn mời gọi chúng ta cùng nhau suy tư về Giáo Hội Chúa Kitô để thấy rằng những mối bất hoà và chia rẽ xảy ra trong lịch sử, hiện vẫn tồn tại, đích thực đi ngược lại với ư muốn của Chúa Kitô, Đấng đă cầu nguyện cho sự hợp nhất trong Giáo Hội: “Xin cho họ hoàn toàn nên một” (Ga 17, 23). Từ đó, chúng ta sẽ tha thiết cầu nguyện và dấn thân nhiều hơn cho công cuộc đại kết của Giáo Hội. Bây giờ chúng ta cùng nhau t́m hiểu vắn tắt một số chủ đề về Giáo Hội.

1. Giáo Hội, một cộng đồng hợp nhất trong đa dạng

Những cộng đoàn Giáo Hội thời ḱ đầu bao gồm những thành phần xuất phát từ những hoàn cảnh rất khác biệt nhau. Trước hết, một số là những tín hữu từ Do Thái giáo; họ vẫn c̣n thực hành những tập tục, những nghi thức cũ trong hội đường, và duy tŕ tâm thức theo luật Do Thái. Nhóm thứ hai gồm những thành viên trong các trường phái triết học đương thời, nổi bật nhất là nhóm Khắc kỉ (Stoicism), Khoái lạc (Epicurus), Ngụy biện (Sophism), nhóm Ngộ đạo (Gnosticism). Có những nhóm liên đới chặt chẽ với nhau và thực hành một nếp sống luân lư chung. Thứ ba, đó là những nhóm thực hành các tín ngưỡng khác nhau; có khi họ quy tụ như một gia đ́nh, coi nhau như anh chị em. Cũng c̣n có những nhóm xă hội khác nữa, nhưng không một tập thể nào lấn át nhóm khác để áp đặt một đường lối Giáo Hội của riêng nhóm ḿnh. Tất cả đều có cùng một cảm thức chung là thuộc về một Giáo Hội duy nhất. Nhưng mỗi nhóm vẫn bảo tồn nguyên vẹn căn tính của ḿnh trong cộng đoàn mới. Như vậy, ngay từ buổi đầu Giáo Hội đă có một mô h́nh phổ quát. Đó là một “Israel mới”, gồm tất cả những ai tin kính Chúa Kitô (1 Cr 1, 2).

Trong các thư của ḿnh, Thánh Phaolô đă đưa ra những giáo huấn và chỉ thị liên quan đến đời sống cộng đoàn. Tuy nhiên, các thư gửi tín hữu Côrintô (đặc biệt thư thứ nhất) nói nhiều đến những vấn đề phát sinh trong cộng đoàn Giáo Hội sơ khai và phương hướng ngài giải quyết.

* Một số đoạn văn gợi ư suy tư về chủ đề này:

1Cr 12, 12- 30; 10, 32; 14, 33

Ep 2, 11- 22; 4, 4- 5; 4, 17- 32;

Cv 2, 42- 47; 4, 32- 35

2. Sự Hoán Cải Tâm Hồn

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Thông điệp về Đại Kết đă tŕnh bày những nguyên tắc và bổn phận để bắt đầu tiến tŕnh đại kết hướng tới hợp nhất, dựa trên tài liệu của Công Đồng Vaticanô II, Sắc Lệnh Unitatis Redintegratio. Công Đồng coi việc hoán cải tâm hồn như là thiết yếu và cần được ưu tiên thực hiện: “Sự hoán cải tâm hồn và đời sống thánh thiện cùng với những lời khẩn cầu chung hay riêng cho sự hợp nhất các Kitô hữu phải được coi như là linh hồn của tất cả phong trào hợp nhất và xứng đáng mang danh là ‘sự hợp nhất thiêng liêng’” (UR số 8).

Thánh Phaolô là đấng cao trọng trước mặt Thiên Chúa và trong Giáo Hội, nhưng ngài là một người trở lại (người hoán cải). Có thể nói ngài là người đón nhận và thực hiện ơn hoán cải triệt để nhất. Rất nhiều lần, ngài chia sẻ và mời gọi các tín hữu thực hành ơn hoán cải nội tâm. Sách Công Vụ Tông Đồ đoạn 9 thuật lại biến cố ngài trở lại. Trong bài diễn từ đọc trước mặt vua Agrippa biện hộ cho sứ vụ loan báo Tin Mừng cho dân ngoại, Thánh Phaolô tŕnh bày hai yếu tố cần thiết của việc hoán cải: “Tôi đă rao giảng cho các dân ngoại, kêu gọi họ sám hối và trở về cùng Thiên Chúa, đồng thời làm những việc chứng tỏ ḷng ăn năn sám hối” (Cv 26, 20). Thật vậy, nếu không cải đổi đời sống, nghĩa là chấp nhận đi vào con đường hẹp (Lc 13, 24) th́ việc hoán cải chỉ là ảo tưởng và vô ích (Dt 6, 4- 8; xem thêm: 1 Cr 9, 24- 27). Việc hoán cải đích thực đ̣i hỏi phải vượt qua miền bóng tối để bước vào miền ánh sáng (Ga 12, 35- 36; Cv 26, 18; Ep 5, 8; 1 Tx 5, 4- 10; 1 P 2, 9). Đó là một cuộc tái sinh, cởi bỏ con người cũ đón nhận nếp sống mới theo Thần Khí (Ep, 22- 24; Cl 3, 1- 4; 9- 10; x. Ga 3, 3- 8).

* Chúng ta đọc các đoạn trong Cv chương 9, 22, 26.

3. Sự Hoà Giải

Thông điệp về Đại Kết c̣n đưa ra một đường hướng giúp tiến đến hợp nhất, đó là ưu tiên cho cầu nguyện (s. 21). Nhưng khởi đầu cho mỗi việc thiêng liêng là sự hoà giải, như lời Chúa nói: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất b́nh với anh, th́ hăy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đă, rồi trở lại dâng lễ vật của ḿnh” (Mt 5, 23- 24). Công đồng cho rằng tinh thần hợp nhất chính là tinh thần hoà giải và bác ái với nhau. Người Công giáo và không công giáo phải tha thứ cho nhau những lỗi phạm chống lại tinh thần này. Dựa trên xác tín đó Công đồng mời gọi chúng ta thực hiện hoà giải: “Lời chứng sau đây của Thánh Gioan vốn c̣n giá trị trước những lỗi lầm huỷ hoại hợp nhất: ‘Nếu ta nói rằng ḿnh vô tội, ta kể Người là kẻ dối trá và Lời của Người không ở trong chúng ta’ (1 Ga 1, 10). Vậy, chúng ta hăy khiêm nhường xin lỗi Chúa và xin lỗi những anh em li khai, cũng như chúng ta tha kẻ có nợ chúng ta” (UR số 7).

Thánh Phaolô nói nhiều đến việc hoà giải trong các thư của ngài, nhưng chúng ta có thể t́m hiểu trong những đoạn văn chính sau đây:

* Rm 5, 6- 11

* 2 Cr 5, 14- 6, 2

* Cl 1, 19- 22

* Ep 2, 11- 22

Suy tư về những vấn đề của Giáo Hội toàn cầu cũng thúc đẩy chúng ta nh́n vào thực tế giáo hội địa phương và mỗi giáo xứ chúng ta. Trong tinh thần chuẩn bị cử hành năm thánh của giáo phận, chúng ta cùng cảm tạ Chúa đă cho chúng ta được gia nhập Giáo Hội Chúa, được làm con Chúa; Chúng ta hăy sống hợp nhất yêu thương nhau để làm chứng cho Tin Mừng.

 

Lm. Giuse Ngô Quang Trung

 

Bài 2. CHÂN DUNG NHÀ TRUYỀN GIÁO PHAOLÔ

 

Đức Giáo Hoàng BÊNÊĐICTÔ

BÀI QUẢNG DIỄN

(dành cho người dạy)

I. SUY NIỆM VÀ CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

 2Cr 11, 21b-29: Về những thử thách thánh Phaolô phải đương đầu và nỗi ưu tư khắc khoải của con người mục tử nơi ngài.

 Cv 20, 18-38: bài từ biệt ở Milêtô biểu lộ tấm ḷng của người mục tử sống chết v́ đoàn chiên.

II. QUẢNG DIỄN

Những ǵ chúng ta biết về cuộc đời thánh Phaolô nằm trong thư gởi ông Philêmon. Trong thư này, ngài nói ḿnh “già” (Philêmon 9: Presbytes) và trong Công vụ tông đồ, ngài được gọi là “trẻ” khi Stêphanô bị ném đá (Cv 7,58: neanias). Cả hai cách nói đều đặc biệt, nhưng theo cách tính của người xưa, ai khoảng tuổi 30 được coi là “trẻ”, c̣n tuổi 60 th́ gọi là “già”. Như vậy, ngày sinh của thánh Phaolô lệ thuộc vào thời gian thư Philêmon được viết ra. Theo truyền thống, thư này được viết trong thời gian ngài bị tù ở Rôma, nghĩa là vào giữa những năm 60. Do đó, thánh Phaolô có lẽ sinh vào năm thứ 8, và lúc Stêphanô bị ném đá, ngài 30 tuổi. Năm thánh Phaolô được mừng theo cách tính này.

Chắc chắn, thánh Phaolô sinh tại Tarsô, thủ phủ miền Cilicia (hoặc Kilikia) (xem Cv 22,3). Năm 51 trước Chúa Giêsu, thủ hiến của thành phố này là Marcô Tullius Cicêron, và sau đó, năm 41, Tarsô là nơi Marcô Antôniô và nữ hoàng Ai Cập Clêôpatra gặp nhau lần đầu tiên. Là người Do Thái lưu vong, thánh Phaolô nói tiếng Hy lạp, trong khi tên lại có gốc la-tinh, phát xuất từ âm trùng của tiếng Do Thái Saolê/ Saulos. Ngài là công dân Rôma (xem Cv 22, 25-28). Ngài chịu ảnh hưởng của ba nền văn hoá – Rôma, Hy Lạp và Do Thái – Có lẽ v́ thế ngài dễ cởi mở rộng răi. Ngài cũng học nghề tay chân, có lẽ từ cha của ngài, đó là nghề dệt lều (xem Cv 18,3: skenopoios). Đây là nghề dệt thảm hoặc lều từ len thô hoặc sợi len (Cv 20, 33-35). Vào tuổi 12 hoặc 13, tuổi mà các trẻ trai Do Thái trở thành “bar mitzvà” (con của giới luật), thánh Phaolô rời Tarsô đến Giêrusalem học với ráp-bi Gamaliel, cháu của ráp-bi nổi tiếng Hillel, tuân theo những luật lệ nghiêm ngặt của phái Pharisiêu, và do nền giáo dục đó, ngài rất nhiệt thành với Luật Môsê. (xem Gl 1, 14; Pl 3,5-6; Cv 22,3; 23,6; 26,5).

Trên nền tảng giáo lư chính thống sâu xa đă học trong trường của Hillel ở Giêrusalem, ngài cho rằng phong trào mới dựa vào danh Giêsu Nadarét là một nguy cơ, một đe doạ cho căn tính Do Thái, cho giáo lư chính thống của các tổ phụ. Điều này giải thích sự kiện ngài “hăng say bách hại Giáo Hội Chúa” như ngài nh́n nhận trong các thư 1 Cr 15,9; Gl 1,13; Pl 3,6.   Mặc dù không dễ dàng nói cụ thể sự bách hại này là ǵ, vẫn có thể coi thái độ của ngài là không khoan nhượng.  Chính đây là điểm cần để xác định biến cố Đamas mà chúng ta sẽ đề cập đến. Chắc chắn là từ biến cố đó, đời sống ngài thay đổi trở thành một tông đồ miệt mài rao giảng Tin Mừng. Thực vậy, lịch sử biết đến ngài như một kitô hữu hoặc như một tông đồ hơn là một người pharisiêu. Truyền thống phân chia hoạt động tông đồ của ngài dựa trên ba hành tŕnh truyền giáo, và thêm hành tŕnh thứ tư đến Rôma như một tù nhân. Thánh Luca kể lại tất cả trong Công vụ tông đồ. Riêng về ba hành tŕnh truyền giáo, cần phân biệt hành tŕnh thứ nhất với hai hành tŕnh c̣n lại.

Thực sự, thánh Phaolô không lănh trách nhiệm trực tiếp trong hành tŕnh truyền giáo thứ nhất (xem Cv 13,14). Hành tŕnh này được trao phó cho Barnaba, người đảo Chypre. Cả hai cùng rời Antiôkia đến Ôrontê, do Giáo hội Antiôkia sai đi (Cv 13, 1-3) và sau khi đáp tàu ở cảng Sêlêxia trên bờ biển Syria, họ băng qua đảo Chypre miền Salamine đến Paphos; từ đó, họ đi đến vùng bờ biển miền Nam Anatôlia, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, và tới các thành phố Attalia, Pergê miền Pamphylia, Antiôkia miền Pisidia, Icônium, Lystra và Derbê, từ nơi này, cả hai trở về Antiôkia. Chính nhờ hành tŕnh truyền giáo này, Giáo Hội các dân ngoại được khai sinh. Trong lúc đó, đặc biệt ở Giêrusalem, một cuộc tranh luận gay gắt đă nổ ra về việc các kitô hữu gốc ngoại giáo phải sống và giữ luật Do Thái đến mức độ nào để thực sự tham dự vào lời hứa do các tiên tri loan báo và được hưởng gia nghiệp của Israel. Để giải quyết vấn đề nền tảng này, công đồng các tông đồ đă hội họp ở Giêrusalem. Đây là một vấn đề  quan trọng. Sự khai sinh giáo hội phổ quát trong tương lai hoàn toàn tuỳ thuộc vào đó. Công đồng các tông đồ đă quyết định không bắt buộc người ngoại giáo trở lại phải giữ luật Môsê (xem Cv 15, 6, 30): nghĩa là họ không bị bắt buộc phải sống hợp với những luật lệ Do thái giáo, chỉ một điều cần thiết là thuộc về Đức Kitô, sống với Người và tuân giữ lời Người. Như vậy, thuộc về Đức Kitô, họ cũng thuộc về Abraham, thuộc về Thiên Chúa và tham dự vào mọi lời hứa.

Sau biến cố quyết định đó, thánh Phaolô tách khỏi Barnabê, ngài chọn Silas và bắt đầu hành tŕnh truyền giáo thứ hai (xem Cv 15, 36-18,22). Sau khi đă đi qua Syria và Cilicia, ngài trở lại thành phố Lystra, nơi ngài tiếp nhận Timôthê (một khuôn mặt rất quan trọng của Giáo Hội sơ khai, có mẹ là người Do Thái và cha là dân ngoại), ngài truyền cho Timôthê chịu cắt b́. Kế đó, ngài băng qua miền trung Anatôlia và đến thành phố Troa trên miền duyên hải phía Bắc biển Êgiê. Chính ở nơi mới này, một biến cố quan trọng đă xảy ra: ngài nằm mơ thấy một người xứ Macêđônia từ bờ biển bên kia, nghĩa là từ Âu châu, nói với ngài: “hăy đến cứu giúp chúng tôi!”. Đó là Âu châu tương lai cầu xin sự giúp đỡ và ánh sáng Tin Mừng. Từ nơi đó, ngài đáp tàu đi Macêđônia, nghĩa là đến Âu châu. Lên bờ ở Nêapôli, ngài đến Philipphê, tại đây, ngài lập một cộng đoàn nhiệt thành, đạo đức, rồi ngài đến Thessalônica, kế đó, v́ người Do Thái gây khó dễ, ngài rời nơi này qua Bêrê đến Athena.

Tại thủ đô của nền văn hoá cổ Hy lạp, đầu tiên, ngài rao giảng cho người Hy lạp và người ngoại giáo ở Agôra, rồi ở Arêôpagô. Và diễn từ ở Arêôpagô được sách Công vụ thuật lại là khuôn mẫu cho cách thế diễn dịch Tin Mừng trong văn hoá Hy lạp, giúp họ hiểu rằng Thiên Chúa của các kitô hữu, của người Do Thái không phải là một Thiên Chúa xa lạ với văn hoá của họ, nhưng là Thiên Chúa vô danh họ đang mong đợi, và Thiên Chúa đó là lời đáp thực sự cho những câu hỏi sâu xa nhất trong văn hoá của họ. Rồi từ Athena, ngài đến Côrintô, và ở lại đó một năm rưỡi. Tại đây, chúng ta có một biến cố rất chắc chắn về tiểu sử của ngài. Trong thời gian đầu tiên lưu lại Côrintô, ngài đă phải tŕnh diện trước tổng đốc tỉnh Achaia là thủ hiến Gallion v́ bị tố cáo là thờ phượng trái phép. Về Gallion và thời của ông này tại Côrintô, một tấm bia cổ được t́m thấy tại Delphê có khắc Gallion là thủ hiến Côrintô từ năm 51 đến 53. Do đó, chúng ta có một ngày tháng chắc chắn. Thánh Phaolô đă lưu lại Côrintô trong những năm đó, trước hoặc sau năm 51 và ở tới năm 52. Rồi từ Côrintô qua Cencrê, hải cảng phía đông của thành phố, ngài đi Palestine, đến Cêsarêa Maritimê, từ đó, ngài lên Giêrusalem rồi trở về Antiôkia qua Ôrontô.

Hành tŕnh truyền giáo thứ ba (xem Cv 18, 23 – 21, 16) cũng bắt đầu từ Antiôkia, nơi trở thành khởi điểm của Giáo Hội dân ngoại, của công cuộc truyền giáo cho dân ngoại, và đó cũng là nơi sản sinh từ “kitô hữu”. Theo thánh Luca, ở đây, lần đầu tiên, các môn đệ của Chúa Giêsu được gọi là “các kitô hữu”. từ Antiôkia, thánh Phaolô đi trực tiếp đến Êphêsô, thủ phủ của tỉnh Asia, ngài lưu lại tại đây hai năm, thi hành sứ vụ có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ trên toàn vùng. Từ Êphêsô, thánh Phaolô viết thư cho cộng đoàn Thêxalônica và Côrintô. Tuy nhiên, dân chúng trong thành nổi lên chống đối ngài qua những thợ kim hoàn địa phương, do doanh thu bị giảm sút v́ người ta không c̣n sùng kính thần Artêmi (Artêmysion, ngôi đền thờ dành để thờ cúng thần Artêmi ở Êphêsô, là một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại); bởi vậy, ngài phải trốn về phía Bắc. Sau khi đi qua vùng Macêđônia, một lần nữa ngài lại xuống Hy Lạp, có lẽ tại Côrintô, ở lại đó ba tháng và viết bức thư nổi tiếng gởi cho cộng đoàn Rôma.

Từ Côrintô, thánh Phaolô trở lại đường cũ: ngài đi ngang qua Macêđônia tới Troa bằng tàu thuỷ, rồi ghé qua các đảo Mytilêna, Chiô và Samô, sau đó, đến Milêtô. Ở đây, ngài đă nói với các kỳ mục của Giáo Hội Êphêsô một diễn từ quan trọng. Diễn từ đó vẽ lên chân dung của người mục tử đích thực trong Giáo Hội (xem Cv 20). Từ Milêtô, ngài đáp thuyền đi Tyrô, rồi đến Cêsarê Maritimê, kế đó, một lần nữa, ngài lại lên Giêrusalem. Tại đây, ngài bị bắt v́ hiểu lầm: nhiều người Do thái cho rằng thánh Phaolô đă đưa những người ngoại giáo vào phần Đền thờ chỉ dành cho người Do Thái, trong khi những người đó thực ra là những người Do thái gốc Hy Lạp. Ngài thoát khỏi án tử h́nh nhờ sự can thiệp của cơ đội Rôma canh giữ trong khuôn viên đền thờ (xem Cv 21, 27-36). Biến cố xảy ra khi Antôniô Fêlix làm tổng đốc miền Giuđê. Sau một thời gian bị giam giữ, thánh Phaolô kêu nài đến hoàng đế Cêsar (lúc đó là Nêrôn) với tư cách công dân Rôma, nên Porcius Festus, tổng đốc kế nhiệm, áp giải ngài đến Rôma.

Hành tŕnh tới Rôma ngang qua các đảo vùng Địa Trung Hải là Crêta và Malta, rồi các thành phố Syracusa, Reggiô Calabria và Pozzuôli (Cv 27,1 – 28,16). Các kitô hữu Rôma đón gặp ngài trên đường Appia. Trong số họ, có người đến từ quảng trường Appius (70 km phía nam Rôma), một số khác đến từ Trê Tavernê (cách Rôma 40 km). Ngài cũng gặp đại diện cộng đoàn Do thái ở Rôma và nói với họ, ngài bị xiêng xích v́ “niềm hi vọng của Israel” (Cv 28,20). Tuy nhiên, tường thuật của thánh Luca kết thúc khi đề cập đến hai năm thánh Phaolô ở Rôma dưới sự canh giữ nhẹ nhàng của lính gác. Thánh Luca không nói ǵ đến phán quyết của Cêsar (tức Nêrôn), cũng như cái chết của thánh Phaolô. Theo truyền thống, ngài được tha bổng, rồi sau đó đi truyền giáo ở Tây Ban Nha, cũng như đến Đông phương, đặc biệt là Crêta, Êphêsô và Nicôpôli vùng Êpirô. Theo giả thuyết, người ta nói ngài bị bắt lần nữa và lại bị tống ngục ở Rôma (từ trong ngục, ngài viết ba lá thư gọi là các thư mục vụ, đó là hai thư gởi cho Timôthê và một thư gởi cho Titô). Vụ kiện thứ hai có lẽ đă không thuận lợi cho ngài. Tuy nhiên, v́ nhiều lư do, một số đông các chuyên gia về thánh Phaolô kết thúc tiểu sử của vị tông đồ theo tường thuật của sách Công vụ tông đồ.

Nh́n lại các hành tŕnh truyền giáo của thánh Phaolô, chúng ta thấy ngài xả thân cho việc loan báo Tin Mừng khi đương đầu với nhiều thử thách khó khăn ngài kể trong thư thứ hai gởi cộng đoàn Côrintô (11, 21-28). Đàng khác, chính ngài đă viết: “Tôi làm tất cả những điều đó v́ Tin Mừng” (1Cr 9,23), đang khi “lo lắng cho tất cả các Giáo hội” với ḷng quảng đại tuyệt đối (2Cr 11,28). Chúng ta thấy nơi ngài một sự dấn thân chỉ có thể được giải thích do một tâm hồn say mê ánh sáng Tin Mừng, yêu mến Đức Kitô, một tâm hồn được nâng đỡ bởi một xác tín sâu xa: đem ánh sáng Đức Kitô đến với thế giới và loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người là điều hết sức cần thiết. Có thể nói: nơi thánh Phaolô, hiện rơ niềm đam mê đối với Tin Mừng, và một trực giác sâu xa về sự vĩ đại, sự đẹp đẽ và sự thiết yếu sâu xa của Tin Mừng.

Xin Chúa là Đấng đă ban cho thánh Phaolô được thấy ánh sáng của Người, được nghe Lời của Người, được Người đụng chạm đến nơi sâu thẳm tâm hồn, cũng làm cho chúng ta thấy ánh sáng của Người, để ḷng chúng ta cũng được xúc động nhờ Lời của Người và nhờ đó, chính chúng ta cũng có thể đem ánh sáng Tin Mừng và chân lư của Đức Kitô đến cho thế giới hôm nay, một thế giới đang khát khao những điều đó.

 

BÀI HỌC

(dành cho người học)

1. H. Thánh Phaolô sinh năm nào và tại đâu?

T. Theo Công vụ tông đồ 7,58 và Thư gởi ông Philêmon 9, thánh Phaolô sinh khoảng năm 8 tại Tarsô thủ phủ miền Cilicia (Cv 22,3).

2. H. Thánh Phaolô được giáo dục thế nào?

T. Thánh Phaolô được thừa hưởng nền giáo dục chính thống của người Do Thái. Ngài là người Pharisêu nên giữ luật rất nghiêm ngặt và nhiệt thành với Luật Môsê. Ngoài ra, ngài c̣n chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Hy Lạp và Rôma nữa.

3. H. Biến cố Đamas là biến cố ǵ?

T. V́ nhiệt thành với Luật Môsê, thánh Phaolô đă hăng say bách hại các kitô hữu. Trên đường đi Đamas để bắt bớ họ, ngài được ơn trở lại và sau đó, trở thành một tông đồ miệt mài rao giảng Tin Mừng.

4. H. Thánh Phaolô đi truyền giáo bao nhiêu lần?

T. Theo Công vụ tông đồ, thánh Phaolô đă thực hiện 4 hành tŕnh truyền giáo. Lần thứ nhất ngài tháp tùng thánh Barnabê. Lần thứ hai và thứ ba, ngài là người dẫn đầu. Riêng lần thứ tư, ngài thực hiện cuộc hành tŕnh tới Rôma như một tù nhân.

5. H. Công đồng Giêrusalem diễn ra thế nào?

T. Trong hành tŕnh truyền giáo lần thứ nhất, một vấn đề nảy sinh: các kitô hữu gốc dân ngoại có phải giữ Luật Môsê không? Các tông đồ đă hội họp tại Giêrusalem và quyết định người ngoại giáo trở lại không phải giữ Luật Môsê.

6. H. Trong hành tŕnh thứ hai, có biến cố ǵ đặc biệt?

T. Ngài nằm mơ thấy một người xứ Macêđônia ở Âu Châu xin ngài đến cứu giúp. Ngài đă lên đường tới đó, nghĩa là sang Âu Châu, để truyền giáo lần đầu tiên. Ngài cũng đến Athena, thủ đô của Hy Lạp, để rao giảng Đức Kitô cho dân thành này.

7. H. Những biến cố đặc biệt nào xảy ra trong hành tŕnh thứ ba?

T. Trước hết, trên đường đi Giêrusalem, thánh Phaolô ghé qua Milêtô, và gặp các kỳ mục của cộng đoàn Êphêsô. Ngài đă nói với họ một bài rất cảm động về người mục tử đích thực phải là người thế nào (Cv 20, 17-38)). Ai nấy đều biết ngài sẽ gặp nguy hiểm ở Giêrusalem, nhưng ngài vẫn quyết định đến đó. Cuối cùng, ngài bị chính đồng bào Do Thái bắt và muốn lên án tử h́nh. Nhưng ngài nại đến quyền công dân Rôma để được chính hoàng đế Cêsar xét xử, nên bị áp giải về Rôma.

8. H. Chúng ta học được ǵ qua cuộc đời và các hành tŕnh truyền giáo của thánh Phaolô?

T. Nơi thánh Phaolô, chúng ta học được những phẩm chất cần thiết của một tông đồ: một đức tin sâu xa vào Đức Kitô, một tâm hồn say mê Tin Mừng và sự dấn thân quên ḿnh để rao giảng Đức Kitô. Đồng thời, ngài c̣n là tấm gương sáng chói về người mục tử tận tuỵ, đó là luôn lo lắng, săn sóc các cộng đoàn tín hữu với hết cả tâm hồn.

 

BÀI T̀M HIỂU THÊM

1. ĐỌC KỸ CÁC ĐOẠN TÂN ƯỚC ĐƯỢC GHI CHÚ TRONG PHẦN QUẢNG DIỄN.

2. CÔNG ĐỒNG GIÊRUSALEM LÀ G̀ VÀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THÁNH PHAOLÔ THẾ NÀO?

Công đồng Giêrusalem là hội nghị của một số môn đệ hàng đầu của Chúa Giêsu. Hội nghị được thuật lại trong Công vụ tông đồ 15, 2-21. Sách Công vụ nói rằng Phaolô cũng tham dự hội nghị v́ vấn đề tranh luận then chốt là việc truyền giáo cho Dân Ngoại (không phải là người Do Thái). Thánh Phaolô có đề cấp đến một hội nghị trong thư Galát 2, 1-10. Đây có lẽ cũng là hội nghị sách Công vụ nói đến. Tuy nhiên, điều đáng nói là hai bản tường thuật này có những chi tiết quan trọng rất khác nhau.

Trong sách Công vụ, có hai vấn đề tranh luận: việc cắt b́ và luật cấm ăn thịt bị coi là ô uế v́ được dùng trong tế tự ngoại giáo. Việc cắt b́ là một vấn đề nhạy cảm đối với các môn đệ Chúa Giêsu. Đối với người Do Thái, đó là một việc quan trọng, tối cần thiết; c̣n đối với dân ngoại, đó là một việc man rợ. Vấn đề đang âm ỉ lập tức bùng lên mănh liệt khi dân ngoại tin vào Đức Kitô và gia nhập cộng đoàn các môn đệ. Sau khi nghe những lời chứng của Phaolô và Barnaba trong hội nghị, hai vị lănh đạo hàng đầu của cộng đoàn Giêrusalem là Phêrô và Giacôbê đă đồng ư giảm bớt một số trói buộc mà một số người gốc Do Thái đang cố áp đặt lên những người ngoại giáo trở lại. Dân ngoại trở lại không buộc phải cắt b́. Họ chỉ được yêu cầu tiết chế không dâm ô và không ăn loại thịt đă được cúng cho tà thần.

Câu truyện thánh Phaolô kể lại th́ khác. Theo cái nh́n của ngài, ngài đi Giêrusalem để gặp các tông đồ lănh đạo then chốt, đó là Phêrô, Giacôbê và Gioan. Bạn đồng hành của ngài là Titô, người Hy lạp, không bị buộc phải cắt b́, nhưng một số người bất đồng ư kiến đă khuấy động một cuộc tranh luận hầu duy tŕ việc cắt b́. Thánh Phaolô nói ba “trụ cột” của Hội Thánh đă chúc lành cho ngài để ngài tiếp tục rao giảngï cho lương dân, những người không cắt b́; cũng như ba vị tiếp tục rao giảngï cho những người được cắt b́. Tuy nhiên, sau đó, có lần, Phaolô nói rằng Phêrô đă không giữ điều đă đồng ư trước đây. Tại Antiôkia, Phêrô bị sức ép của phe đ̣i giữ luật cắt b́ nên đă tránh không ngồi đồng bàn với các kitô hữu gốc dân ngoại (Gl 2, 11-14).

Ai có cái nh́n chính xác hơn về những ǵ đă xảy ra ở hội nghị này? Đó là một hội nghị công khai hay riêng tư? Không thể dễ dàng trả lời cho câu hỏi lịch sử đó. Điều chúng ta có thể nói chắc chắn đó là Công đồng Giêrusalem là một mẫu gương cho các tín hữu thời kỳ đầu trong việc giải quyết những bất đồng hoặc khủng hoảng bằng h́nh thức tham khảo ư kiến rộng răi v́ ngay cả Phaolô là một tông đồ muộn màng cũng được tham gia vào các quyết định như vậy.

 

3. CÁC HÀNH TR̀NH CỦA THÁNH PHAOLÔ DIỄN RA THẾ NÀO? NGÀI CÓ PHẢI LÀ NHÀ TRUYỀN GIÁO DUY NHẤT ĐI NHIỀU NHƯ THẾ KHÔNG?

Theo sách Công vụ tông đồ, thánh Phaolô đă thực hiện ba hành tŕnh truyền giáo và hành tŕnh cuối cùng tới Rôma để đối mặt với các cáo buộc chống lại ngài (có thể tham khảo các bản đồ ở cuối sách Thánh Kinh loại lớn của nhóm Phụng vụ giờ kinh).

Theo những ǵ đă tŕnh bày trong phần quảng diễn, chúng ta thấy thánh Phaolô đi lại rất nhiều. Một học giả ước tính chiều dài các hành tŕnh truyền giáo của ngài dài hơn 10.000 dặm. Chính thánh Phaolô cũng nhắc tới các hành tŕnh của ngài trong thư 2 Côrintô. Ngài nói ḿnh đă làm nhiều hành tŕnh với những nguy hiểm đủ loại và những vụ đắm tàu (2Cr 11,25-26). Ngài dùng cả đường bộ lẫn đường biển. Dĩ nhiên, đường biển chỉ có thể đi được vào một thời gian nào đó trong năm khi thời tiết không phải là mối đe doạ nghiêm trọng (xem Cv 28,11 có nhắc đến một con tàu đă phải “trú đông” ở một ḥn đảo). Hệ thống đường xá của đế quốc Rôma tạo ra một mạng lưới giao thông thuận lợi. Một lộ tŕnh chính thánh Phaolô thường di chuyển là con đường Egnatia chạy từ miền Tây sang miền Đông. Dọc theo lộ tŕnh này có thành phố Thêxalônica và Philipphê những nơi ngài đă thăm viếng.

Lược đồ ba cuộc hành tŕnh này có vẻ hợp lư. Tuy nhiên, chúng ta phải ghi nhận hai hạn chế của nó: (1) Từ nội dung các bức thư của thánh Phaolô, chúng ta không thể tái tạo một lược đồ như vậy; (2) nhiều văn bản cổ dùng chủ đề hành tŕnh để kể lại câu chuyện về các vị anh hùng của họ. Công vụ thuật lại nhiều chi tiết  diễn tả hoàn cảnh tại các cộng đoàn của thánh Phaolô, như  Côrintô, Philípphê, Êphêsô. Nhưng chúng ta cũng không thể biết chắc có phải thánh Phaolô chỉ thực hiện 3 hành tŕnh truyền giáo lớn. Có thể Ngài cũng đă thực hiện các hành tŕnh khác nữa v́ c̣n một quăng thời gian trong cuộc đời ngài không được tính đến, đặt biệt là thời gian ở Arabia (Gl 1,17).

Một câu hỏi khác được đặt ra là làm sao có thể xác định được thời gian 14 năm giữa các cuộc thăm viếng của ngài đến Giêrusalem mà ngài nhắc tới vào buổi đầu sứ vụ ngài thực hiện (Gl 2,1). Đây là 14 năm kể từ lúc ngài trở lại hay là từ thời gian cuộc hành tŕnh đầu tiên của ngài tới Giêrusalem? Thư gửi tín hữu Galát chứa đựng bản tường thuật dài nhất về các chuyến đi của ngài (Ga 1,17-2,1). Bức thư này cho thấy rơ là sau cuộc trở lại, ngài đến Arabia (có lẽ là Nabatea), sau đó trở lại Đamas. Rồi ba năm sau, ngài tới Giêrusalem lần đầu tiên và được nối tiếp bằng các cuộc hành tŕnh đến Syria và đến tỉnh nhà của Ngài ở Cilicia. Sau đó thánh Phaolô diễn tả việc ngài đi đến Giêrusalem tham dự Công Đồng Giêrusalem 14 năm sau đó. Một vài chi tiết trùng với lược đồ trong Công Vụ Tông Đồ ở trên, một số chi tiết th́ mập mờ khó hiểu hơn. Điều chắc chắn là thánh Phaolô tự coi ḿnh là một nhà truyền giáo lữ hành. Ơn gọi cao cả nhất của Ngài là tông đồ cho dân ngoại. Một ơn gọi đ̣i hỏi phải thực hiện một hành tŕnh rộng khắp Đế quốc Rôma. Thật vậy, chương tŕnh của ngài có vẻ là một cuộc mở rộng về phía Tây đến nước Tây Ban Nha và tới các vùng xa xôi của Đế Quốc (Rm 15,24-28).

Thánh Phaolô không phải là một vị truyền giáo duy nhất đi nhiều như vậy, mặc dù sở thích của ngài là đi tới các cánh đồng truyền giáo mới chưa được nghe loan báo Tin Mừng (Rm 15,20-21). Thỉnh thoảng ngài cũng đi thăm các nơi mà Tin Mừng đă được rao giảng từ trước. Đối với những trường hợp này, Ngài thú nhận: “...Nhưng lúc ấy Hội Thánh Đức Giêsu tại miền Giuđê không biết mặt tôi, họ chỉ nghe nói rằng, ‘người trước đây bắt bớ chúng ta, bây giờ lại rao giảng đức tin mà xưa kia ông đă muốn tiêu diệt’, và v́ tôi, họ tôn vinh Thiên Chúa” (Gl 1,21-24). Lịch sử không ghi lại tên tuổi của những nhà truyền giáo đầu tiên này. Một vài vị được biết đến là nhờ các truyền thống cổ xưa mà không phải luôn luôn có thể kiểm chứng được; một số vị khác th́ hoàn toàn không được biết đến. Lấy ví dụ, truyền thống nói Phêrô thi hành sứ vụ tại Rôma, nhưng thư thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma không nhắc tới truyền thống này. Phaolô cũng có những người bạn đồng hành và đôi khi họ tự ư đi truyền giáo theo cách của họ.

Tóm lại, Hội Thánh sơ khai lớn mạnh là nhờ các nhà truyền giáo lữ hành như thánh Phaolô. Các ngài sẵn sàng đương đầu với những nguy hiểm lớn lao mà bất cứ cuộc hành tŕnh nào cũng có thể đưa tới (2 Cr 11,26). Và như thánh Phaolô đă kể lại, ngài đă trải qua một số các nguy hiểm như thế: đắm tàu, cướp cạn và ngay cả cướp biển, phải làm việc vất vả, bị đói khát, không nơi trú ẩn, v.v... (2 Cr 11,25-28). Vào thời ngài, việc đi lại không phải dễ dàng. Hầu hết là đi bộ. Các thương gia th́ dùng loài vật hoặc xe chở đồ đạc, nhưng chỉ có quân đội hoặc chính quyền mới có ngựa để chuyên chở. Di chuyển bằng tàu thuỷ không phải là các tàu du lịch xa xỉ ngày nay. Thông thường, những người đi lại đặt chỗ trước trên các thương thuyền đi theo hướng họ sẽ đi (Cv 21,2-3; 27,2). Bất chấp trở ngại, các nhà truyền giáo như thánh Phaolô đă loan báo sứ điệp Tin Mừng một cách hiệu quả phi thường.

 

Lm. Micae Lê Xuân Tân

Bài 3. SỰ HOÁN CẢI CỦA THÁNH PHAOLÔ

(PHAOLÔ CHỨNG NHÂN CỦA MỘT NGƯỜI TRỞ LẠI)

Đức Giáo Hoàng BÊNÊĐICTÔ

BÀI QUẢNG DIỄN

(dành cho người dạy)

I. SUY NIỆM VÀ CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

 Pl 3, 4-9: thánh Phaolô coi những ǵ trước kia là có lợi th́ nay v́ Đức Kitô, ngài coi là thiệt tḥi và việc được biết Đức Kitô là mối lợi tuyệt vời không ǵ so sánh nổi.

 Cv 9, 11-19: trong biến cố Đamas, thánh Phaolô gặp gỡ Đức Kitô.

II. QUẢNG DIỄN

1. Nhập đề: biến cố trên đường Đamas

(*Các tiểu đề của người dịch*)

Bài giáo lư hôm nay nói về kinh nghiệm thánh Phaolô cảm nhận trên đường Đamas, nghĩa là nói về sự hoán cải của ngài. Hiển nhiên, trên chính đường Đamas, một thời điểm quyết định đă diễn ra. Thời điểm này ở vào đầu những năm 30 thuộc thế kỷ thứ nhất, sau thời gian ngài bách hại Giáo Hội. Người ta đă viết nhiều về vấn đề này và dĩ nhiên các quan diểm cũng khác nhau. Một điều chắc chắn là một bước ngoặt đă diễn ra trên con đường đó và thậm chí có thể nói một sự đảo ngược quan điểm hoàn toàn. Từ lúc đó, ngài bắt đầu coi tất cả những ǵ trước đây là lư tưởng cao cả nhất, là lư do sống c̣n của ḿnh như “thiệt tḥi” và “rác rưởi” (xem Pl 3, 7-8). Điều ǵ đă xảy ra?

2. Hai nguồn tài liệu: công vụ tông đồ và các thư của thánh Phaolô

Về điểm này, chúng ta có hai nguồn tài liệu. Nguồn thứ nhất là những chuyện kể của thánh Luca. Thánh sử thuật lại biến cố đó ba lần trong Công vụ tông đồ (xem 9, 11-19; 22, 3-21; 26, 4-23). Đây là nguồn tài liệu được biết đến nhiều nhất. Người đọc thường bị cám dỗ dừng lại trước một số chi tiết như: ánh sáng từ trời, ngă xuống đất, tiếng Chúa nói, mù loà, không ăn không uống ba ngày, những cái như vảy bong ra khỏi mắt khi được chữa lành. Thực ra, những chi tiết đó đều nhắm nói đến một biến cố: Đức Kitô phục sinh xuất hiện như một ánh sáng rực rỡ và Người nói với Saolê, Người biến đổi tư tưởng và chính đời sống ngài. Ánh sáng rực rỡ của Đấng Phục Sinh đă làm ngài mù loà: dấu hiệu bên ngoài đó chỉ một thực tại bên trong: sự mù loà của Saolê đối với chân lư, với ánh sáng là Đức Kitô. Và sau đó, lời thưa “vâng” trong  Phép Rửa lại mở đôi mắt ngài ra, giúp ngài thực sự nh́n thấy.

Trong Giáo Hội sơ khai, Phép Rửa cũng được gọi là “chiếu sáng” v́ bí tích này ban ánh sáng, giúp người lănh nhận thực sự nh́n thấy. Như vậy, điều được nói đến theo thần học cũng được thực hiện nơi thánh Phaolô theo thể lư: được chữa lành sự mù loà nội tâm, nên ngài thấy rơ. Do đó, thánh Phaolô được biến đổi không phải nhờ một tư tưởng, mà là nhờ một biến cố, đó là sự hiện diện chắc chắn của Đấng Phục Sinh. Từ đó về sau, ngài không bao giờ nghi ngờ về sự hiển nhiên của biến cố đó, về sự gặp gỡ đó, một biến cố thật mănh liệt đối với ngài. Nó làm cuộc đời ngài thay đổi tự nền tảng; và theo ư nghĩa đó, chúng ta có thể nói đến một sự hoán cải. Cuộc gặp gỡ đó là trọng tâm trong chuyện kể thánh Luca thuật lại. Chắc chắn, thánh sử đă sử dụng câu chuyện đă có trong cộng đồng tín hữu Đamas. Sắc thái địa phương như sự hiện diện của Anania và tên các đường phố cũng như tên chủ nhà nơi thánh Phaolô trú ngụ (xem Cv 9,11) cho phép nghĩ như vậy.

Nguồn tài liệu thứ hai về sự hoán cải của thánh Phaolô nằm trong các Thư của chính ngài. Ngài không bao giờ nói chi tiết về biến cố đó. Điều này có thể là do mọi người đều biết điểm chính yếu của câu chuyện trên, và đều biết kẻ bách hại đạo trước đây đă biến đổi trở nên ngướ tông đồ nhiệt thành của Đức Kitô. Và sự biến đổi đó không phải là kết quả của những suy tư cá nhân, mà do một biến cố trọng đại, một gặp gỡ với Đấng Phục Sinh. Dù không nói đến chi tiết, nhưng nhiều lần ngài đề cập đến sự kiện rất quan trọng này, nghĩa là chính ngài cũng là người làm chứng về sự phục sinh của Đức Giêsu, chính từ Đấng ấy, ngài đă trực tiếp lănh nhận mặc khải, cùng với sứ mạng tông đồ.

Bản văn rơ rệt nhất về điểm này nằm trong câu chuyện ngài kể về trọng tâm của lịch sử cứu độ: đó là cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu cùng với những lần hiện ra với các chứng nhân (1 Cr 15). Bằng những lời thuộc truyền thống cổ xưa đă nhận lănh từ Giáo Hội Giêrusalem, ngài nói Đức Giêsu đă chịu đóng đinh, đă chết, được mai táng và phục sinh, rồi Người hiện ra trước hết với Kêpha, tức Phêrô, rồi với Nhóm Mười Hai, Sau đó, Người hiện ra với 500 anh em mà phần đông hiện nay c̣n sống, tiếp đến, Người hiện ra với Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Cuối cùng, ngài thêm: “Sau hết, Người cũng đă hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non” (1Cr 15,8). Khi nói như vậy, ngài có ư cho chúng ta hiểu đó là nền tảng cho sứ mạng tông đồ và đời sống mới của ngài. C̣n những bản văn khác cũng nói như vậy: “Nhờ Người (Đức Giêsu), chúng tôi đă nhận được đặc ân và chức vụ Tông đồ” (Rm 1,5) và “Tôi đă không thấy Đức Giêsu, Chúa chúng ta sao?” (1Cr 9,1), những lời ngài ám chỉ điều ai nấy đều biết. Sau cùng, bản văn phổ biến nhất là Gl 1, 15-17: “Nhưng Thiên Chúa đă dành riêng tôi ngay từ khi tôi c̣n trong ḷng mẹ, và đă gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đă đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đă chẳng thuận theo các lư do tự nhiên, cũng chẳng lên Giê-ru-sa - lem để gặp các vị đă là Tông Đồ trước tôi, nhưng tức khắc tôi đă sang xứ Ả-rập, rồi lại trở về Đa-mát.” Trong những lời “tự biện hộ” này, ngài quả quyết chính ngài cũng là một chứng nhân đích thực của Đấng Phục Sinh và ngài đă trực tiếp lănh nhận một sứ mạng từ Đấng Phục Sinh.

3. Hoán cải nhờ gặp gỡ Đức Kitô

Như vậy, chúng ta thấy cả hai nguồn tài liệu, Công vụ tông đồ và Các Thư của thánh Phaolô, đều nhất trí qui về một điểm nền tảng: Đấng Phục Sinh đă nói với Phaolô, Người đă kêu gọi ngài thi hành chức vụ tông đồ, Người đă làm cho ngài trở nên một tông đồ đích thực, một chứng nhân của sự phục sinh, với trách nhiệm đặc biệt là loan báo Tin Mừng cho dân ngoại, cho thế giới Hy Lạp-Rôma. Đồng thời, Phaolô cũng học biết rằng, dù có mối liên hệ trực tiếp với Đấng Phục Sinh, ngài vẫn phải hiệp thông với Giáo Hội, phải được chịu Phép Rửa, phải sống hoà hợp với các tông đồ khác. Chỉ trong hiệp thông với mọi người, ngài mới có thể là một tông đồ thực sự. Thánh Phaolô đă viết rơ ràng điều đó trong thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô: “Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, th́ chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đă tin như vậy.” (15,11). Chỉ có một loan báo về Đấng Phục Sinh v́ chỉ có một Đức Kitô mà thôi.

Trong tất cả những bản văn trên, có thể thấy không bao giờ thánh Phaolô diễn dịch giờ phút trên đường Đamas là một cuộc hoán cải. Tại sao? Có nhiều giả thuyết, nhưng một lư do hiển nhiên nhất, đó là bước ngoặt cuộc đời ngài, sự biến đổi toàn bộ con người ngài không phải là kết quả của một tiến tŕnh tâm lư, một sự trưởng thành hoặc một sự tiến triển về trí thức và luân lư, nhưng lư do đó đến từ bên ngoài: chính là nhờ gặp gỡ Đức Giêsu Kitô. Theo nghĩa này, đó không đơn thuần là một cuộc hoán cải, một sự trưởng thành của cái “tôi”, nhưng là sự chết đi và sống lại cho chính ḿnh: chết đi đối với đời sống cũ và sinh lại trong đời sống mới với Đức Kitô phục sinh. Không c̣n cách giải thích nào khác đối với sự đổi mới của thánh Phaolô. Chính cuộc gặp gỡ rất sâu đậm với Đức Kitô là ch́a khoá giúp hiểu những ǵ đă xảy ra: Đấng tỏ ḿnh ra và nói với ngài cũng chính là Đấng đă chết và phục sinh, nơi Đấng ấy, có một sự đổi mới hoàn toàn. Với ư nghĩa sâu xa đó, chúng ta có thể và phải nói đến sự hoán cải. Cuộc gặp gỡ này là một canh tân thực sự làm đổi thay toàn bộ đời sống ngài. Giờ đây, có thể nói những ǵ là chính yếu và căn bản đối với ngài trước đây, chỉ c̣n là “rác rưởi”; những ǵ là “được”, th́ bây giờ là “mất”, bởi v́ bắt đầu từ bây giờ chỉ c̣n đời sống trong Đức Kitô là có giá trị.

Dù vậy, không nên nghĩ rằng thánh Phaolô mù quáng giam ḿnh vào một biến cố bởi v́ Đức Kitô phục sinh ngài gặp gỡ là ánh sáng chân lư, ánh sáng của chính Thiên Chúa. Ánh sáng đó mở rộng tâm hồn ngài, giúp ngài cởi mở với hết mọi người. Giờ đây, ngài không đánh mất những ǵ là tốt là thật đă có trong đời sống, trong di sản của ḿnh, trái lại, ngài đạt tới một cách hiểu mới về khôn ngoan, chân lư, chiều sâu của lề luật và các tiên tri; có thể nói ngài nắm bắt chúng theo một cách thế mới mẻ. Đồng thời lư trí ngài cũng cởi mở với khôn ngoan dân ngoại; nhờ hết ḷng cởi mở với Đức Kitô, nên ngài có khả năng đối thoại rộng răi với mọi người, trở nên mọi sự cho mọi người: ngài thực sự trở nên vị tông đồ dân ngoại.

4. Kitô hữu là người đă gặp gỡ Đức Kitô

Giờ đây, trở về với chính ḿnh, chúng ta tự hỏi: tất cả những điều đó muốn nói ǵ với tôi? Điều muốn nói với tôi, đó là kitô giáo không phải là một triết lư mới hay một luân lư mới. Chúng ta chỉ là kitô hữu khi gặp được Đức Kitô. Dĩ nhiên, Người không tỏ ḿnh ra cho chúng ta cách hiển nhiên như với thánh Phaolô. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể gặp gỡ Đức Kitô, cảm nhận được Người tận đáy sâu tâm hồn nhờ đọc Kinh Thánh, nhờ cầu nguyện, nhờ tham dự vào đời sống Phụng vụ của Giáo Hội. Chính trong tương quan mật thiết cá nhân với Đức Kitô, trong gặp gỡ với Đấng Phục Sinh, chúng ta mới thực sự là những kitô hữu. Nhờ gặp Đức Kitô, ḷng trí chúng ta mở ra đón nhận sự khôn ngoan của Người và mọi phong phú của chân lư Người mặc khải.

Do đó, hăy cầu xin Chúa soi sáng cho chúng ta, ban cho chúng ta được gặp Ngài trong thế giới chúng ta đang sống; nhờ đó, với một đức tin sống động, một tâm hồn cởi mở, một ḷng bác ái bao la đối với mọi người, chúng ta có thể canh tân thế giới này.

(Lm. Micae Lê Xuân Tân dịch từ bản pháp ngữ)

 

BÀI HỌC

(dành cho học viên lớn)

1. H. Sách nào trong Tân ước nói đến biến cố Đa-mát?

    T. Công vụ tông đồ và các thư của thánh Phaolô.

2. H. Có nên quá lưu tâm đến những chi tiết lạ lùng bên ngoài trong biến cố Đa-mát không?

    T. Không nên, v́ những chi tiết bên ngoài chỉ là dấu hiệu cho biết điều xảy ra trong tâm hồn. Mù loà đôi mắt chỉ sự mù loà tâm hồn: Phaolô không nh́n thấy Đức Kitô là ánh sáng, là chân lư cứu độ. Nhờ phép Rửa chữa lành sự mù loà, Phaolô đă nh́n thấy Đức Kitô và gặp được Người.

3. H. Các thư của thánh Phaolô nói ǵ về biến cố Đa - mát?

    T. Các thư của ngài không nói đến những chi tiết lạ lùng của biến cố Đa-mát, mà chỉ nói Đức Kitô Phục Sinh đă hiện ra với ngài và trao cho ngài sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại.

4. H. Công vụ tông đồ và các thư của thánh Phaolô có điểm chung nào?

    T. Điểm chung của cả hai tài liệu là: Đức Kitô Phục Sinh đă hiện ra với Phaolô, kêu gọi ngài làm tông đồ, trao cho ngài sứ mạng loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho dân ngoại.

5. H. Sự hoán cải của thánh Phaolô phải được hiểu thế nào cho đúng?

    T. Đó không phải là một tiến triển đi đến trưởng thành về hiểu biết hoặc đạo đức, nhưng là một đổi đời hoàn toàn, một sự chết đi và sống lại: đời sống cũ chết đi và đời sống mới bắt đầu nhờ gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh.

6. H. Cuộc hoán cải của thánh Phaolô dạy chúng ta bài học nào?

    T. Đạo công giáo của chúng ta không phải là một cách sống mới, một luân lư mới, nhưng là một gặp gỡ với Đức Kitô Phục Sinh nhờ cầu nguyện, nhờ tham dự vào đời sống phụng vụ của Giáo Hội, nhất là thánh lễ.

 

BÀI HỌC

(dành cho trẻ em)

1- H. Ư nghĩa của biến cố trên đường Đa-mát là ǵ ?

     T. Đó là kinh nghiệm hoán cải của Thánh Phao lô đă nhận được từ sự gặp gỡ với Chúa Ky tô phục sinh.

2- H. Dựa vào đâu ta biết được kinh nghiệm này ?

     T. Dựa vào hai nguồn tài liệu này: một là sách Tông đồ Công vụ. Hai là các thư của chính Thánh Phaolô.

3- H. Sách Tông đồ Công vụ đă nói ǵ ?

     T. Đă kể lại việc Chúa Kitô phục sinh xuất hiện trong một luồng ánh sáng rực rỡ, đă nói với Thánh Phaolô, và đă biến đổi tư tưởng và đời sống của Ngài.

4- H. Các thư của Thánh Phaolô đă nói ǵ ?

     T. Ngài không bao giờ nói chi tiết về biến cố này, chỉ nói ngài đă gặp Đức Kitô Phục Sinh và được Chúa trao sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại.

5- H. Chúng ta phải hiểu sự hoán cải của thánh Phaolô thế nào?

     T. Đó là một đổi đời: đời sống cũ chết đi và đời sống mới bắt đầu nhờ gặp gỡ Đức Kitô.

6- H. Kitô hữu là ai?

     T. Ta chỉ là người Kitô hữu, khi ta gặp gỡ Đức Kitô nhờ cầu nguyện, nhờ tham dự vào đời sống phụng vụ của Giáo Hội, nhất là thánh lễ.

 

BÀI ĐỌC THÊM

(Chuyển ư từ cuốn “Saint Paul, face à lui-même”, ĐHY Carlo Maria Martini, trang 12-23)

*ĐỌC KỸ CÁC ĐOẠN TÂN ƯỚC ĐƯỢC GHI CHÚ TRONG PHẦN QUẢNG DIỄN VÀ PHẦN ĐỌC THÊM SAU ĐÂY.

I. MỘT SỐ GIẢI THÍCH DỄ LÀM BIẾN CỐ ĐAMAS BỊ HIỂU SAI.

Đây là biến cố thường được nói đến nhiều nhất trong giáo lư, phụng vụ, nghệ thuật. Các bức tranh thường vẽ thánh Phaolô trên lưng ngựa, ngă xuống và một luồng ánh sáng bao trùm ngài. Những chi tiết đó làm biến cố Đamas mất ư nghĩa đích thực. Chúng cũng làm cho hoạt động của Chúa trong tâm hồn con người bị hiểu sai.

1. Giải thích biến cố Đamas như một hoán cải luân lư.

Thánh Phaolô là một người rất tội lỗi và vào một giờ phút nào đó, hiểu được điều ác ḿnh làm, ngài thay đổi đời sống. Sự hoán cải về phương diện luân lư chứng tỏ một ư chí kiên cường, một sự trở về sâu xa trên phương diện t́nh cảm và một tiến triển nội tâm. Theo cái nh́n này, mọi sự đều tập trung vào con người trước đây của thánh Phaolô thế nào; vào những nỗ lực để thay đổi đời sống, và vào con người bây giờ của ngài đă biến đổi thế nào.

2. Giải thích biến cố Đamas: thánh Phaolô là người thay đổi ngọn cờ.

Trước đây, ngài là người nhiệt thành tuân giữ Lề Luật (đạo Do Thái), c̣n bây giờ, đột nhiên, ngài chọn một hướng đi mới, dấn thân không mệt mỏi để phục vụ dưới một ngọn cờ mới, đó là ngọn cờ của Đức Kitô. Như vậy, biến cố này chỉ là sự thay đổi: thay đổi phương pháp, thay đổi Giáo Hội: trước đây ngài phục vụ Hội Đường, bầy giờ phục vụ Giáo Hội của Đức Kitô. Đối với ngài, Giáo Hội đó là con đường cao siêu hơn để thực hiện lư tưởng của ḿnh. Đây là cách giải thích chúng ta thường thấy trong lịch sử kitô giáo. Cái chúng ta gọi là những hoán cải chỉ là những thay đổi đảng phái; và đôi khi, c̣n đổi lần nữa là theo một ngọn cờ thứ ba.

Theo cách giải thích này, th́ không phải thánh Phaolô hoán cải mà ngài chỉ thay đổi chiến tuyến. Hậu quả là chúng ta sẽ giải thích sự hoán cải của chúng ta cũng như của người khác với những tiêu chuẩn đó; làm như vậy, là coi nhẹ hành động của Thiên Chúa.

3. “Sự hoán cải của thánh Phaolô”: nói như vậy có đúng không?

Thánh Phaolô không bao giờ gọi biến cố Đamas là sự hoán cải. Khi dùng cách giải thích này, có lẽ chúng ta không hiểu nhiều về những ǵ xảy đến với ngài. Chúng ta vội vă gán cho nó một nhăn hiệu, xếp nó vào một loại sẵn có, mà không t́m hiểu đến nơi đến chốn.

Từ “hoán cải” là một từ đặc biệt của Tân ước. Ngày xưa, trong bản dịch Vulgata, từ này được gọi là “sám hối”. Rơ ràng có sự thay đổi từ ngữ. Có thời, người ta dịch lựi Đức Giêsu rao giảng trong Marcô 1, 15: “Hăy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Đây là cách dịch từ la-tinh poenitemini theo nghĩa đen. Ngày nay, chúng ta dịch là “hăy hoán cải”. Từ “hoán cải” đă thay thế cho từ “hăy ăn năn” hay “hăy sám hối”. Từ “hoán cải” phát xuất từ tiếng do thái có nghĩa là “trở lại”. Chuyển hướng hay hoán cải chính là đang đi theo một hướng, người ta dừng lại một chút rồi quay trở lại phía sau.

Trong Tân ước, ư tưởng quay trở về được diễn tả bằng hai động từ trong Tin Mừng Nhất Lăm và Công vụ tông đồ: “metanoéin” có nghĩa là thay đổi năo trạng; và “epistréfo” có nghĩa đúng là “trở lại”. Đôi khi những từ này được dịch là “hăy sám hối” để thay đổi ngôn từ cho bản văn phong phú, nhưng nghĩa đúng của nó là “thay đổi đời sống”, “thay đổi năo trạng”,  là “trở về”. Ngay cả từ “hăy sám hối” cũng có nghĩa là “trở về” v́ nó nói đến một đau buồn trong ḷng do lỗi lầm đă phạm, hoặc sự thống hối chúng ta làm để chứng tỏ ḿnh đă thay đổi.

C̣n thánh Phaolô, ngài không bao giờ diễn tả những ǵ xảy đến với ngài bằng từ “hoán cải”. Ngài không nói đến sự thay đổi năo trạng hoặc trở về. Dĩ nhiên, ngài hiểu hoán cải nghĩa là ǵ và những ǵ xảy đến với ngài cũng bao hàm tất cả những đặc tính của sự hoán cải. Tuy nhiên, biến cố ngài trải qua c̣n có một ư nghĩa rộng lớn hơn và sâu xa hơn. Cần nói thêm, trong khi các Tin Mừng nhất lăm dùng từ hoán cải th́ thánh Gioan không bao giờ sử dụng từ đó. Điều này chứng tỏ rằng trong Tân ước, có những quan điểm khác nhau để diễn tả sự phức tạp của tiến tŕnh con người đi về với Thiên Chúa. Thánh Gioan thích nói: đến với Đức Giêsu, đến với Người, đi đến Người hơn. Ư tưởng căn bản của hoán cải – theo nghĩa sâu xa của Kinh Thánh – được diễn tả trong Tin Mừng thứ tư bằng từ ngữ: những tương quan cá nhân với Đức Giêsu, hoặc bằng những từ: đi theo Người. Nghĩa này gần với ư nghĩa của biến cố Đamas của thánh Phaolô.

II. BIẾN CỐ ĐAMAS LÀ MỘT MẦU NHIỆM

Trước hết, điều đáng ngạc nhiên là thánh Phaolô ít nói tới biến cố Đamas. Đâu là những bản văn ngài đề cập tới biến cố này?

1. Trong các thư lớn, chỉ có thư gởi các tín hữu Galát nói đến biến cố Đamas: “Nhưng Thiên Chúa đă dành riêng tôi ngay từ khi tôi c̣n trong ḷng mẹ, và đă gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đă đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại...” (Gl 1,15 - 16). Để nói về biến cố Đamas, ngài dùng bốn động từ: Người đă chọn tôi (dành riêng tôi ra), đă gọi tôi, đă mặc khải Con của Người cho tôi … để tôi loan báo Tin Mừng. Trong bốn động từ, chỉ có động từ thứ ba là ám chỉ đến sự hoán cải của ngài. Các động từ khác đặt sự hoán cải trong bối cảnh ư định quan pḥng của Thiên Chúa.

Như vậy, thánh Phaolô tŕnh bày điều chính yếu xảy đến với ngài, chính là ngài được Con Thiên Chúa mặc khải và được trao phó việc rao giảng Tin Mừng.

2. Trong đoạn văn của thư gởi các tín hữu Rôma, thánh Phaolô chuyển những ǵ làm nên kinh nghiệm riêng của ḿnh vào một bối cảnh rộng lớn hơn: “V́ những ai Người đă biết từ trước, th́ Người đă tiền định cho họ nên đồng h́nh đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. Những ai Thiên Chúa đă tiền định, th́ Người cũng kêu gọi; những ai Người đă kêu gọi, th́ Người cũng làm cho nên công chính; những ai Người đă làm cho nên công chính, th́ Người cũng cho hưởng phúc vinh quang.” (Rm 8, 29-30).

3. C̣n trong thư thứ nhất gởi các tín hữu Côrintô, ngài đề cập đến biến cố đó rất vắn tắt trong bối cảnh bút chiến: “Tôi không tự do ư? Tôi không phải là tông đồ ư ? Tôi đă không thấy Đức Giê-su, Chúa chúng ta sao? Anh em không phải là công tŕnh của tôi trong Chúa sao?” (1 Cr 9,1). Biến cố Đamas chính là sự “nh́n thấy Thiên Chúa”. Sau đó trong thư, ngài c̣n thêm: “Sau hết, Người cũng đă hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non. Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, v́ đă ngược đăi Hội Thánh của Thiên Chúa.” (1Cr 15,8-15). Đối với thánh Phaolô, biến cố Đamas được giải thích là sự hiện ra “cho tôi là kẻ bất xứng”. Ở đây, có nói tới sự hoán cải luân lư, nhưng sự kiện chính yếu, đó là Đức Giêsu đă hiện ra với ngài.

4. Một đoạn văn quan trọng khác cho biết thánh Phaolô đă đón nhận biến cố đó thế nào: “Mặc dầu tôi đây, tôi có lư do để cậy vào xác thịt. Nếu ai khác có lư do để cậy vào xác thịt, th́ tôi càng có lư do hơn: tôi chịu cắt b́ ngày thứ tám, thuộc ḍng dơi Ít-ra-en, họ Ben-gia - min, là người Híp-ri, con của người Híp-ri; giữ luật th́ đúng như một người Pha-ri-sêu; nhiệt thành đến mức ngược đăi Hội Thánh; c̣n sống công chính theo Lề Luật, th́ chẳng ai trách được tôi. Nhưng, những ǵ xưa kia tôi cho là có lợi, th́ nay, v́ Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt tḥi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt tḥi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. V́ Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người. Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Mô-sê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do ḷng tin vào Đức Ki-tô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên ḷng tin.” (Pl 3,4-9). Có thể nói sau biến cố Đamas, có sự đảo ngược hoàn toàn các giá trị; những ǵ trước đây đối với ngài là quan trọng th́ bây giờ chỉ là con số không, không c̣n ǵ đáng ngài lưu tâm nữa. Những ǵ trước đây ngài không muốn từ bỏ th́ bây giờ lại làm ngài kinh tởm, bởi v́ sự hiểu biết Đức Kitô đă trở nên mối quan tâm sống c̣n của ngài. Sự gặp gỡ, sự hiểu biết, sự viên măn của Đức Kitô khiến ngài xét lại những đánh giá và bậc thang giá trị trước đây.

5. Một đoạn văn quan trọng khác: “Quả thật, xưa Thiên Chúa đă phán: Ánh sáng hăy bừng lên từ nơi tối tăm ! Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi ḷng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Ki-tô.”  (2 Cr 4,6). Ở đây, bản văn có ư nói đến tất cả các tông đồ, nhưng mang một âm vang đặc biệt nếu áp dụng vào trường hợp hoán cải của thánh Phaolô. Thiên Chúa Sáng Tạo đă chiếu sáng tâm hồn ngài và soi sáng cho ngài hiểu sự phong phú khôn ḍ của Đức Kitô và đời sống của Người.

6. Đoạn văn cuối cùng giải thích rơ nhất sự hoán cải của thánh Phaolô trên b́nh diện luân lư. Dù không thể coi thường khía cạnh này, nhưng cách giải thích đó cũng gặp nhiều vấn nạn trên phương diện ngôn ngữ: “Tôi tạ ơn Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta, Đấng đă ban sức mạnh cho tôi, v́ Người đă tín nhiệm mà gọi tôi đến phục vụ Người. Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đă được Người thương xót, v́ tôi đă hành động một cách vô ư thức, trong lúc chưa có ḷng tin.” (1Tm 1,12-13). Có thật thánh Phaolô là một kẻ tội lỗi về phương diện luân lư? V́ trong thư gởi tín hữu Philipphê ngài nói: “C̣n sống công chính theo Lề Luật, th́ chẳng ai trách được tôi.” Rồi ngài tiếp tục: “Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta, đă ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người. Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Ki-tô Giê - su đă đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi. Sở dĩ tôi được thương xót, là v́ Đức Giê-su Ki-tô muốn tỏ bày tất cả ḷng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai sẽ tin vào Người, để được sống muôn đời.” (1Tm 1,14-16). Đó là tất cả những ǵ bí ẩn, mầu nhiệm của sự hoán cải trong biến cố Đamas. Ư nghĩa của nó thật phong phú mà cũng thật khó hiểu.

Bởi vậy, biến cố Đamas có một ư nghĩa phức tạp, chứ không chỉ là một hành vi hoán cải luân lư đơn thuần hoặc chỉ là một sự thay đổi năo trạng.

III. NHỮNG CÂU HỎI CHO CHÚNG TA

1. Trong đời sống tôi, có những giây phút hoán cải “lịch sử” mà tôi không bao giờ quên không?  Nếu không có những giây phút hoán cải “lịch sử”, tôi có những giờ phút biến đổi, những cuộc khủng hoảng, qua đó, tôi nắm bắt mầu nhiệm Thiên Chúa một cách mới mẻ không?

2. Trong đời sống đạo, nếu chưa bao giờ xảy đến một đổi mới năo trạng như thánh Phaolô, chúng ta khó có thể tiến bước trong đời sống thiêng liêng. Do đó, chúng ta chỉ c̣n cách là cầu nguyện cùng Chúa xin Người soi sáng cho ta hiểu biết đời sống của ta, quá khứ của ta, nhờ đó, ta nhận ra ta cần đổi mới đời sống ta thế nào.

 

Lm. Micae Lê Xuân Tân